|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 398 /2023/HNGĐ-ST Ngày: 29/12/2023. “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Bích Liên
- Bà Ngô Thị Thơm
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 425/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 453/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 03/2023/TB-TA ngày 28 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 318/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1999;
Địa chỉ: Số nhà I phố T, khu B, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Anh Đinh Nhật A, sinh năm 1993;
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số nhà B Đ, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Đức.
Chị N, anh Nhật A đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai chị Nguyễn Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Nhật A tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương vào ngày 08/5/2020 và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn chị chuyển về nhà anh Nhật A sinh sống cùng gia đình nhà chồng. Năm 2022, anh Nhật A đi sang Đức làm việc còn chị ở lại Việt Nam, được một thời gian thì vợ chồng thường xuyên cãi nhau qua điện thoại về vấn đề làm ăn kinh tế và nuôi con nên chị đã chuyển về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nhật A.
- Về con chung: Chị và anh Nhật A có 02 con chung là Đinh Ngọc Á, sinh ngày 01/11/2021 và Đinh Tuệ A1, sinh ngày 04/3/2023, hai cháu còn nhỏ nên hiện tại đang ở với chị. Khi ly hôn chị đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành và tự nguyện không yêu cầu anh Nhật A cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về tài sản chung, vay nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, chị N không cung cấp được địa chỉ của anh Nhật A tại Đức nên Tòa án đã xác minh thông qua bà Đinh Thị L là bác ruột của anh Nhật A do bố mẹ đẻ và anh chị ruột của anh Nhật A đều đang sinh sống ở nước ngoài. Bà Đinh Thị L trình bày: Anh Nhật A ở cùng bà từ năm 12 tuổi. Đến ngày 09/9/2022 thì anh Nhật A sang Đ làm việc và ở cùng với mẹ đẻ. Về thời điểm kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh Nhật A như chị N trình bày là đúng. Khi kết hôn, bà là người đứng ra tổ chức lễ cưới cho anh Nhật A và chị N. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn, cãi nhau. Hiện nay, anh Nhật A đang làm việc tại Đức vẫn thường xuyên liên lạc, hỏi thăm sức khỏe bà. Sau khi nhận được thông báo thụ lý và các văn bản của Tòa án, bà đã thông báo cho anh Nhật A biết về việc chị N có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng con chung. Quan điểm anh Nhật A như sau: Chị N có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung như chị N trình bày là đúng, chị N đề nghị tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung, anh Nhật A nhất trí; Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay, anh Nhật A đang đi làm xa nên anh Nhật A xin vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên tòa, các văn bản Tòa án gửi cho anh Nhật A đề nghị gửi cho bà và bà sẽ có trách nhiệm thông báo cho anh Nhật A. Địa chỉ của anh Nhật A tại nước ngoài bà không nắm được nên không thể cung cấp cho Tòa án.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị N có đề nghị xin xét xử vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn anh Nhật A vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Đinh Nhật A; Giao cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Đinh Ngọc Á, sinh ngày 01/11/2021 và Đinh Tuệ A1, sinh ngày 04/3/2023 cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh Nhật A cấp dưỡng tiền nuôi con chung; Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị N có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị với anh Đinh Nhật A. Anh Nhật A hiện đang sinh sống và lao động tại Đức, chị N đang sinh sống và làm việc tại phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Quá trình giải quyết vụ án, chị N không cung cấp được địa chỉ của anh Nhật A tại Đức. Theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị N và bà L là bác ruột của anh Nhật A cung cấp địa chỉ, nhưng chị N và bà L không cung cấp được. Tuy nhiên, bà L xác định anh Nhật A vẫn thường xuyên liên lạc hỏi thăm sức khỏe bà, bà đã thông báo về việc chị N có đơn xin ly hôn nhưng anh Nhật A không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, áp dụng Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Tại phiên tòa chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nhật A vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị N, anh Nhật A.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Đinh Nhật A tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương vào ngày 08/5/2020 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị N chuyển về nhà anh Nhật A sinh sống cùng gia đình nhà chồng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp dẫn đến cãi vã. Năm 2022, anh Nhật A sang Đ làm việc còn chị N ở lại Việt Nam, được một thời gian thì vợ chồng thường xuyên cãi nhau qua điện thoại về vấn đề làm ăn kinh tế và nuôi con nên chị N đã chuyển về sống tại nhà bố mẹ đẻ. Chị N xác định không còn tình cảm với anh Nhật A và có đơn xin ly hôn, thông qua bà L, anh Nhật A có quan điểm đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị N và anh Nhật A đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị N được ly hôn anh Nhật A là phù hợp.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị N và anh Nhật A có 02 con chung là Đinh Ngọc Á, sinh ngày 01/11/2021 và Đinh Tuệ A1, sinh ngày 04/3/2023 hiện nay đang ở với chị N. Khi ly hôn, chị N có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 con chung và tự nguyện không yêu cầu anh Nhật A đóng góp tiền nuôi con chung, thông qua bác ruột anh Nhật A có quan điểm nhất trí. Do vậy, giao cháu Á và cháu A1 cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh Nhật A cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh Nhật A được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3]. Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân & Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Đinh Nhật A.
- Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Đinh Ngọc Á, sinh ngày 01/11/2021 và Đinh Tuệ A1, sinh ngày 04/3/2023, thời gian từ tháng 12/2023 cho đến khi con chung trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh Nhật A cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh Đinh Nhật A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0001180 ngày 10/10/2023 (chị N đã nộp đủ án phí).
- Về quyền kháng cáo: Chị N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh Nhật A vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
Bản án số 398/2023/HNGĐ-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 398/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N ly hôn và tranh chấp con chung Đinh Nhật A
