Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 398 /2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21/8/2024

V/v: tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thế Lợi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng

Bà Nguyễn Thị Luận

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 222/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QÐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2024/QÐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).

- Bị đơn: Chị Đặng Thị X, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng - nguyên đơn anh Nguyễn Văn L trình bày:

    Về quan hệ hôn nhân: Anh L và chị Đặng Thị X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 06/12/2005 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình anh ở xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn do cuộc sống khó khăn nên bất đồng quan điểm sống. Bản thân anh phải đi làm xa ở nhà chị X mâu thuẫn với gia đình anh dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi nhau, nhiều lần chị X bỏ về nhà ngoại. Từ cuối năm 2007 chị X mang hai con về nhà ngoại vợ chồng ly thân cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị X.

    Về con chung: Anh và chị X có 02 con chung là Nguyễn Thị P, sinh ngày 13/3/2006 và Nguyễn Thị P1, sinh ngày 29/9/2007; hiện tại đang ở với chị X. Ly hôn anh đồng ý để chị X nuôi cháu P1, cháu P đã trưởng thành không có nhược điểm về thể chất và tinh thần nên việc ở với ai do cháu tự quyết định. Hiện tại anh chưa có công việc ổn định, thu nhập không có nên anh xin tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung.

    Về tài sản chung và công nợ, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  2. Đối với bị đơn - chị Đặng Thị X: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị X không đến Tòa án làm việc, không cung cấp chứng cứ và trình bày quan điểm của bị đơn theo quy định.

  3. Tại biên bản lấy lời khai của ông Đặng Viết H (bố đẻ chị X) thể hiện: Anh L và chị X có đăng ký kết hôn năm 2005 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình anh L ở Thanh Hóa. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn nên từ năm 2007 chị X về nhà ông sinh sống vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Từ khi vợ chồng lấy nhau anh L ra thăm gia đình ông được một lần sau không thấy ra nữa. Nay anh L xin ly hôn chị X do vợ chồng tự quyết định ông không có ý kiến gì. Anh L và chị X có 02 con chung là Nguyễn Thị P, sinh năm 2006 và Nguyễn Thị P1, sinh năm 2007 hiện đang ở với chị X. Hiện cháu P đã trưởng thành, cháu P1 để cho chị X nuôi dưỡng, không cần anh L cấp dưỡng vì từ khi các cháu còn nhỏ đến nay anh L không có trách nhiệm. Về tài sản chung vợ chồng không có.

  4. Ý kiến đương sự tại phiên tòa:

    • Anh L vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn chị X; về con chung: cháu Nguyễn Thị P đã trưởng thành; anh L đồng ý để chị X nuôi cháu Nguyễn Thị P1, sinh năm 2007; anh xin tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ phát biểu ý kiến:

    • Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
    • Về nội dung: Căn cứ vào ý kiến của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn và xử cho anh Nguyễn Văn L được ly hôn chị Đặng Thị X. Về con chung: Cháu Nguyễn Thị P đã trên 18 tuổi, không có nhược điểm về thể chất, tinh thần. Giao chị X được quyền nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị P1. Anh L không có thu nhập ổn định nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi có sự thay đổi khác. Về tài sản, công sức, công nợ: không yêu cầu giải quyết. Về án phí: Anh L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng:

    [1.1] Anh Nguyễn Văn L có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ giải quyết được ly hôn chị Đặng Thị X. Chị X đang cư trú tại thôn L, xã L, huyện C, Tp .. Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

    [1.2] Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

  2. Về nội dung:

    [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn L và chị Đặng Thị X thiết lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ngày 06/12/2005 là hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên anh chị đã ly thân từ năm 2007 đến nay. Nay anh L xin ly hôn, chị X không đến Tòa án làm việc, không trình bày ý kiến. Xét thấy, tình cảm giữa anh L và chị X không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của anh L với chị X là phù hợp quy định pháp luật.

    [2.2] Về con chung: Anh L và chị X có 02 con chung là Nguyễn Thị P, sinh ngày 13/3/2006 và Nguyễn Thị P1, sinh ngày 29/9/2007. Hiện cháu P đã trưởng thành, không có nhược điểm về thể chất, tinh thần.

    Xét thấy cháu P1 từ khi vợ chồng ly thân đến nay vẫn đang ở ổn định với chị X. Do đó giao chị X được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Nguyễn Thị P1, sinh ngày 29/9/2007 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có quyết định thay đổi khác.

    Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    [2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hiện anh L chưa có công việc ổn định và thu nhập nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đến khi có Quyết định thay đổi khác.

    [2.4] Về tài sản chung, công nợ chung: Anh L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

    [2.5] Về án phí: Anh L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

    Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn L được ly hôn chị Đặng Thị X.

  2. Về con chung: Anh L và chị X có 02 con chung là Nguyễn Thị P, sinh ngày 13/3/2006 và Nguyễn Thị P1, sinh ngày 29/9/2007. Cháu Nguyễn Thị P đã trưởng thành, không có nhược điểm về thể chất, tinh thần nên không xem xét.

    Chị Đặng Thị X được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Nguyễn Thị P1, sinh ngày 29/9/2007 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có quyết định thay đổi khác.

    Anh Nguyễn Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn L đến khi có Quyết định thay đổi khác.

  4. Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  5. Về án phí: Anh Nguyễn Văn L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002078 ngày 17/5/2024.

  6. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Đặng Thị X có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Chi cục THADS huyện Chương Mỹ;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Hoằng Thanh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Trường hợp án có HLPL);
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 398/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 398/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger