|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 398/2024/HNGĐ-ST Ngày 15-04-2024 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoài
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Văn Dương
- Ông Nguyễn Văn Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi - Thư ký Tòa án án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.
Ngày 15 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 1018/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023, về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 03 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 113/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 03 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1989; hộ khẩu thường trú: Ấp D, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: số D đường T, Tổ D, Khu phố D, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Bị đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm 1980; địa chỉ: số A đường H, Tổ A, Ấp D, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 24 tháng 07 năm 2023 và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Trần Thị Kim L trình bày:
Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 259/2008 ngày 19 tháng 11 năm 2008. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng khoảng hai năm gần đây thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không thể tìm được tiếng nói chung, không chia sẻ với nhau mọi vấn đề trong cuộc sống và thường xuyên xảy ra cãi vã. Mâu thuẫn kéo dài không giải quyết được nên vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay nhận thấy không thể hàn gắn tình cảm nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.
Về con chung: nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung tên Lê Trung K, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2010 và Lê Hồng K1, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2013. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Hồng K1, bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Trung K, nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên họp ngày 07 tháng 03 năm 2024, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, đồng ý giao hai con chung cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con nguyên đơn tự thỏa thuận với bị đơn, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc bà Trần Thị Kim L yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về yêu cầu của các đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 259/2008 ngày 19 tháng 11 năm 2008 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Kim L và ông Lê Văn N là hợp pháp.
- Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng. Tòa án đã nhiều lần động viên nguyên đơn hàn gắn tình cảm nhưng nguyên đơn từ chối; bị đơn nhiều lần nhận được giấy triệu tập nhưng không đến Tòa án để hòa giải; tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt. Điều đó chứng tỏ nguyên đơn và bị đơn không còn tha thiết với việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, để trở về đoàn tụ, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình.
Xét thấy, hôn nhân phải là sự tự nguyện từ hai phía, vợ chồng phải yêu thương tôn trọng lẫn nhau, thống nhất với nhau về suy nghĩ và quan điểm sống, các bên phải quý trọng, chia sẻ, bàn bạc giải quyết các vấn đề chung trong cuộc sống, tuy nhiên, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn là có cơ sở chấp nhận.
- Xét yêu cầu về người trực tiếp nuôi con:
Căn cứ bản sao Giấy khai sinh số 880/GKS-BS và bản sao Giấy khai sinh số 881/GKS-BS cùng ngày 24 tháng 07 năm 2023 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung tên Lê Trung K, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2010 và Lê Hồng K1, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2013, xét thấy, từ khi các đương sự sống ly thân đến nay, 02 con chung của các đương sự đang sống cùng cha, tại bản tự khai ngày 11 tháng 01 năm 2024, trẻ K và trẻ K1 cùng có nguyện vọng sống với cha để ổn định việc học tập nên việc nguyên đơn yêu cầu giao 02 con chung cho bị đơn tiếp tục nuôi dưỡng là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: quá trình giải quyết vụ án, bị đơn vắng mặt và không có yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con, nguyên đơn yêu cầu được tự thỏa thuận với bị đơn về mức cấp dưỡng nuôi con, xét thấy, đây là ý chí của các đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81,82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim L được ly hôn với ông Lê Văn N.
Giấy chứng nhận kết hôn số 259/2008 ngày 19 tháng 11 năm 2008 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh hết hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Giao 02 con chung Lê Trung K, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2010 và Lê Hồng K1, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2013 cho ông Lê Văn N trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con các đương sự tự thỏa thuận.
Bà Trần Thị Kim L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, tôn trọng quyền của con được sống với người trực tiếp nuôi dưỡng.
Trên cơ sở lợi ích của con, cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Trần Thị Kim L phải nộp, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0018115 ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thị Kim L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Hoài |
Bản án số 398/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 398/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Kim L - Lê Văn N
