Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 398/2025/DS-PT

Ngày: 30 - 05 - 2025

“V/v: Tranh chấp thừa kế.”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Đỗ Minh Hoàng.
Các Thẩm phánBà Nguyễn Thị Hà;
Ông Lê Thanh Bình.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thùy Trang – Thư ký TAND Thành phố Hà Nội

Đại diện VKSND Thành phố Hà Nội: Bà Lê Thị Hồng H - Kiểm sát viên.

Ngày 30/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 532/2024/TLPT-DS ngày 12/12/2024 về “Tranh chấp thừa kế tài sản”. Do bản án sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2025/QĐ-PT ngày 27/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa ngày 18/3/2025 và Thông báo mở lại phiên tòa ngày 23/5/2025 của TAND Thành phố Hà Nội, giữa:

  1. Nguyên đơn:
    1. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1962;
    2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960.

    Cùng địa chỉ: Thôn K, xã K, thị xã S, TP .

  2. Bị đơn:
    1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957. Đại diện theo ủy quyền của bà L là ông Nguyễn Kiều Lưu .
    2. Ông Nguyễn Kiều L1, sinh năm 1966.

    Cùng địa chỉ: Thôn K, xã K, thị xã S, TP .

  3. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Kiều L1 là bị đơn.

Có mặt các đương sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại cấp sơ thẩm, theo hồ sơ vụ án.

  1. Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị T thống nhất trình bày:

    Bố mẹ đẻ các bà là cụ Nguyễn Kiều N (sinh năm 1927, đã chết năm 2000) và cụ Nguyễn Thị L2 (sinh năm 1928, đã chết năm 2004) đều không để lại di chúc. Hai cụ có 04 người con đẻ là: 1·Nguyễn Thị L, 2 Nguyễn Thị T, 3 Nguyễn Thị H1, 4· Nguyễn Kiều Lưu . Hai cụ không có con nuôi, con đẻ khác, bố mẹ hai cụ đều chết trước hai cụ. Hai cụ có thửa đất số 74, tờ bản đồ số 01 diện tích 2669,4m² tại thôn K, xã K, thị xã S, Hà Nội (Sau đây viết tắt là thửa đất số 74).

    Năm 2000, cụ N chết, cụ L2 khởi kiện tại Tòa án đề nghị phân chia di sản thừa kế là thửa đất số 74. Cụ L2 cùng 04 con của cụ là các bà L, T, H1 và ông L1 đều thống nhất, ký vào biên bản về sự thỏa thuận của các đương sự được Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây lập ngày 16/9/2024 (BL 83). Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 05/QĐ-HGT ngày 01/10/2002 (Sau đây viết tắt là Quyết định số 05/QĐ-HGT ngày 01/10/2002), TAND thị xã Sơn Tây đã phân chia thửa đất số 74 cho: Cụ Nguyễn Thị L2, diện tích 1072m²; ông Nguyễn Kiều L1, diện tích 512m²; Bà Nguyễn Thị T, diện tích 1090m²; Có sơ đồ thửa đất kèm theo. Sau khi phân chia thì ông L1, bà T đã xây nhà trên đất.

    Đến năm 2004 cụ L2 chết không để lại di chúc. Phần diện tích 1072m² của cụ L2 được ông L1 và bà T sử dụng chung.

    Nay bà H1 và bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia thừa kế theo pháp luật phần diện tích 1072m² cụ L2 được phân chia theo Quyết định số 05/QĐ-HGT và đề nghị được hưởng chung bằng hiện vật.

  2. Bị đơn
    1. Ông Nguyễn Kiều L1 trình bày:

      Quan hệ huyết thống đúng như nguyên đơn trình bày.

      Thừa nhận: Năm 2000 cụ N chết, cụ L2 đã khởi kiện tại Tòa án để phân chia di sản thừa kế là thửa đất số 74. Tòa án đã phân chia thửa đất số 74 tại Quyết định số Quyết định số 05/QĐ-HGT ngày 01/10/2002; Trong đó cụ Nguyễn Thị L2 được hưởng diện tích 1072m².

      Nay bà H1 và bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia thửa đất diện tích 1072m² của cụ L2, ông Lưu K nhất trí, ông L1 đề nghị Tòa án giải quyết như sau:

      1. Chia phần diện tích 1090m² Tòa án đã phân chia cho bà T cho 03 người là Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị H1 mỗi người một phần bằng nhau.
      2. Sau đó mới phân chia phần diện tích 1072m² của cụ L2 cho 04 người con là các bà L, T, H1 và ông L1. Ông L1 đề nghị được nhận tài sản bằng quyền sử dụng đất ở vị trí giáp nhà ông để tiện sử dụng.

      Cụ L2 và cụ N không để lại nghĩa vụ với ai khác, về mai táng phí của các cụ ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

      Về kết quả đo đạc thể hiện diện tích của cụ L2 hiện nay là 1128,4m² định giá tài sản, ông L1 cho rằng phần diện tích của cụ L2 lấn sang phần của ông L1, theo Quyết định số 05/QĐ-HGT ngày 01/10/2002 ông L1 được chia diện tích 640m², nhưng phần sơ đồ kèm theo ông chỉ có diện tích 512m² nên ông chưa được đủ diện tích. Về diện tích thửa đất của cụ L2 và ông L1 đang sử dụng không có tranh chấp gì về ranh giới với các hộ liền kề.

    2. Bà Nguyễn Thị L trình bày:

      Về quan hệ huyết thống, quan hệ gia đình về tài sản chung của bố mẹ bà về việc năm 2004 cụ L2 khởi chia thừa kế đã được giải quyết tại Quyết định số 05/QĐ-HGT bà thống nhất như trình bày của ông L1 và nguyên đơn.

      Nay bà H1, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia thửa đất diện tích 1072m² Tòa án đã chia cho cụ L2. Bà không đồng ý phân chia phần diện tích 1072m² của cụ L2 theo yêu cầu khởi kiện của bà H1, bà T. Yêu cầu Tòa án phân chia cho bà một phần đất diện tích 360m² tại vị trí hiện nay bà T đang sử dụng.

      Xác định: Cụ L2 và cụ N không để lại nghĩa vụ với ai khác, về mai táng phí của các cụ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án sơ thẩm đã tiến hành xác minh:

Tại Công văn số 76/UBND-ĐC ngày 15/5/2024, UBND xã K cung cấp: Quá trình Quản lý, sử dụng thửa đất số 74, tờ bản đồ 01, diện tích đo đạc năm 2003 là 2669,4 m² theo bản đồ 2003 và sổ mục kê lưu tại UBND xã, thửa đất trên đứng tên cụ L2. Sau khi có Quyết định số 05/QĐ-HGT ngày 01/10/2002chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Kiều N, chia cho cụ L2 sở hữu phần diện tích 1072 m² tại thửa đất số 74 cùng các tài sản, công trình trên đất, Cụ L2 và các con không làm thủ tục kê khai, đăng ký biến động tại xã. Việc tranh chấp di sản thừa kế đối với thửa đất trên, UBND xã không nhận được đơn thư liên quan đến việc giải quyết tranh chấp đối với thửa đất trên. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày 26/7/2024 thể hiện:

Thửa đất số 74, đo đạc năm 2003, chưa được cấp Giấy CNQSD đất. Tại Quyết định số 05/QĐ-HGT ngày 01/10/2002 đã phân chia thửa đất trên thành 03 thửa đất cho ông L1, bà T và cụ L2. Phần diện tích đất của cụ L2 nằm ở giữa thửa đất.

Về tài sản công trình trên đất các đương sự không yêu cầu Tòa án tiến hành định giá mà xác định ai được chia phần nào sẽ được sử dụng các tài sản công trình tại phần được phân chia. Về giá đất: Tổng giá trị thửa đất là 725.856.000 đồng.

  • * Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên quan điểm của mình; Bị đơn đề nghị HĐXX chia phần đất diện tích 1090m² của bà T cho 04 anh chị em sau đó chia phần đất của cụ L2 là phần diện tích 1072m²;
  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây phát biểu. Đề nghị: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Hậu, Thảo. Xác định di sản của cụ L2 là 1072m² đất tại thửa đất số 74. Mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng 1072m²/4 = 268m², thành tiền 181.464.000 đồng.

Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 23/9/2024, Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội đã Quyết định:

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của bà Nguyễn Thị H1 và Nguyễn Thị T.
  2. Xác nhận di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị L2 là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 74-2 tờ bản đồ số 01 diện tích 1128,4m² tại Thôn K, xã K, thị xã S, Hà Nội,

Tổng giá trị di sản là 731.383.200 đồng (Bảy trăm ba mươi mốt triệu ba trăm tám mươi ba nghìn hai trăm đồng).

Chia di sản thừa kế theo pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Thị L2 thành 04 kỷ phần bằng nhau cho bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Kiều L1 mỗi kỷ phần trị giá: 182.845.800 đồng (Một trăm tám mươi hai triệu tám trăm bốn mươi lăm nghìn tám trăm đồng).

Giao bà Nguyễn Thị L quyền sử dụng đất tại thửa đất số 74-2d tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại thôn K, xã K, thị xã S, TP ., được giới hạn bởi các điểm 3, 4, 5, 5a, 3b, 3a, 3 diện tích 288m², bao gồm 100m² đất ở và 188m² đất trồng cây lâu năm, trị giá 183.424.000 (Một trăm tám mươi ba triệu bốn trăm hai mươi bốn nghìn) đồng;

Giao bà Nguyễn Thị T quyền sử dụng đất tại thửa đất số 74-2a tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại thôn K, xã K, thị xã S, TP ., được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,3a,6b,1 diện tích 278m², bao gồm 100m² đất ở và 178m² đất trồng cây lâu năm, trị giá 182.444.000 (Một trăm tám mươi hai triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng;

Giao bà Nguyễn Thị H1 quyền sử dụng đất tại thửa đất số 74-2b tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại thôn K, xã K, thị xã S, TP ., được giới hạn bởi các điểm 3a, 3b, 6a, 6b, 3a diện tích 278,8m², bao gồm 100m² đất ở và 178,8m² đất trồng cây lâu năm, trị giá 182.522.400 (Một trăm tám mươi hai triệu năm trăm hai mươi hai nghìn bốn trăm) đồng;

Giao ông Nguyễn Kiều L1, quyền sử dụng thửa đất số 74-2c tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại thôn K, xã K, thị xã S, TP ., được giới hạn bởi các điểm 3b, 5a, 6, 6a, 3b diện tích 283,6m², bao gồm 100m² đất ở và 183,6m² đất trồng cây lâu năm, trị giá 182.992.800 (Một trăm tám mươi hai triệu chín trăm chín mươi hai nghìn tám trăm) đồng;

(Phần đất được chia có sơ đồ đính kèm. Khi làm GCNQSDĐ người được giao đất phải có nghĩa vụ tài chính đối với phần đất mình được giao).

Bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ thanh toán phần giá trị chênh lệch cho bà Nguyễn Thị H1 và bà Nguyễn Thị T mỗi người 289.100 (Hai trăm tám chín nghìn một trăm) đồng, ông Nguyễn Kiều L1 có nghĩa vụ thanh toán phần giá trị chênh lệch cho bà Nguyễn Thị H1 và bà Nguyễn Thị T mỗi người là 73.500 (Bảy mươi ba nghìn năm trăm) đồng;

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm:

Ông L1, bà L là bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Sau khi thụ lý phúc thẩm. Theo yêu cầu của các đương sự, Tòa cấp phúc thẩm tiến hành xem xét thẩm định lại tài sản.

Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và sơ đồ do Công ty cổ phần P và bản đồ Hà Nội đo vẽ ngày 25/4/2025. Xác định được:

  • Thửa đất kí hiệu 74-1, tại thửa đất số 74 của bà T được chia theo Quyết định số 05/QĐ-HGT ngày 01/10/2002 chỉ còn 1031,3 m² không kể ngõ đi có 2m chiều ngang đi vào đất của bà L được chia từ trước.
  • Thửa đất kí hiệu 74-2, tại thửa đất số 74 của cụ Nguyễn Thị L2 được chia theo theo Quyết định số 05/QĐ-HGT ngày 01/10/2002 chỉ còn 1096,5 m².
  • Thửa đất kí hiệu số 74-3 ông L1 được chia theo Quyết định số 05/QĐ-HGT ngày 01/10/2002 là 658,1 m² (không kể ngõ đi chiều rộng 2m đi vào phía đất bên trong của ông L1 đã được chia từ trước).

Tại biên bản làm việc ngày 23/5/2025. Bà T, bà H1 và ông L1 là đại diện theo ủy quyền của bà L đã cùng nhau thỏa thuận:

  1. Bà Nguyễn Thị T tiếp tục được quyền sử dụng thửa đất ký hiệu số 74-1 diện tích 1031,3m² và sở hữu toàn bộ tài sản, cây cối gắn liền trên phần diện tích đất này. Giới hạn bởi các điểm 7,8,9,10,7 trong sơ đồ. Diện tích đất ngõ đi vào nhà, đất của bà L phía sau có chiều rộng 2 m là của riêng bà L.
  2. Ông Nguyễn Kiều L1 tiếp tục được quyền sử dụng quyền sở hữu các tài sản, cây cối gắn liền trên đất tại thửa đất ký hiệu số 74-3 diện tích 658,1m² giới hạn bởi các điểm 5,6,2,4,5 trong sơ đồ. Diện tích đất ngõ đi vào nhà đất của ông L1 phía sau có chiều rộng 2m là của riêng ông L1.
  3. Thửa đất kí hiệu 74-2, tại thửa đất số 74 nay có số đo thực tế là 1096,5 m² giới hạn bởi các điểm 6,7,10,11,1,2,6 là di sản của cụ Nguyễn Thị L2 để lại. Các đương sự thống nhất phân chia di sản thừa kế của cụ L2 theo pháp luật như sau:

    Cụ Nguyễn Thị L2 chết ngày 15/02/2004 không để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ L2 gồm: bà H1, bà T, bà L và ông L1 ngoài ra không còn ai khác.

    Di sản thừa kế của cụ L2 được chia thừa kế cho 04 người con: Bà Nguyễn Thị H1; bà Nguyễn Thị T; bà Nguyễn Thị L (do ông L1 là đại diện theo ủy quyền của bà L); ông Nguyễn Kiều Lưu . Mỗi người 01 kỷ phần được hưởng thừa kế bằng nhau từ di sản của cụ lan để lại là thửa đất kí hiệu 74-2, tại thửa đất số 74 nay có số đo thực tế là 1096,5 m²; mỗi người được hưởng 1/4 của 1096,5 m². Phần của bà T, bà H1 xin được nhận chung thành 01 phần (1/2 của 1096,5 m²) về phía giáp với thửa đất 74-1 của bà T đã được chia. Sau khi chia cho bà T và bà H1, phần còn lại chia cho bà L và ông L1 sử dụng chung. Cụ thể:

    • Bà T và bà H1 được chia hưởng chung kỷ phần thừa kế di sản của cụ L2 là quyền sử dụng đất và sở hữu các tài sản, cây cối gắn liền với diện tích đất 548,25 m² tại thửa đất ký hiệu số 74-2 (1/2 di sản của cụ L2 để lại) giới hạn bởi các điểm 7,10,11,1,1',6',7 trong sơ đồ.
    • Bà L và ông L1 được được chia hưởng chung kỷ phần thừa kế di sản của cụ L2 là quyền sử dụng đất và sở hữu các tài sản, cây cối gắn liền với đất, diện tích 548,25m² tại thửa đất ký hiệu số 74-2 giới hạn bởi các điểm 6,6',1',2,6 trong sơ đồ.
    • Cùng thống nhất: Nếu tài sản, cây cối gắn liền với đất được chia cho ai, thì người ấy hưởng. Các đương sự được phân chia đất như đã thỏa thuận trên có quyền, nghĩa vụ chủ động đăng ký kê khai, xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất được chia với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo nội dung các đương sự đã thỏa thuận tại Biên bản làm việc (Biên bản hòa giải) ngày 23/5/2025. Không bổ sung, trình bày hoặc thay đổi gì khác.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo nội dung các đương sự đã thỏa thuận.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

  1. Về Teố tụng:

    Cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự.

    Người kháng cáo thực hiện việc kháng cáo trong hạn luật định.

  2. Về Nội dung:

    Xét kháng cáo của bà L và ông L1. Hội đồng xét xử thấy:

    Mặc dù bà L, ông L1 cùng là bị đơn và cùng kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội. Tuy nhiên quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đã thỏa thuận với nhau về cách giải quyết toàn bộ vụ án. Cụ thể các đương sự đã thỏa thuận:

    Cụ Nguyễn Thị L2 được chia 1072 m² đất kí hiệu là thửa đất số 74-2 thuộc thửa đất số 74, tờ bản đồ số 01 tại thôn K, xã K, thị xã S, Hà Nội theo Quyết định số 05/QĐ-HGT ngày 01/10/2002. Nay có số đo thực tế là 1096,5 m²; giới hạn bởi các điểm 6,7,10,11,1,2,6 là di sản của cụ L2 để lại. Các đương sự thống nhất: Hàng thừa kế thứ nhất của cụ L2 gồm bà H1, bà T, bà L và ông L1 ngoài ra không còn ai khác; cùng thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của cụ L2 là quyền sử dụng 1096,5m² đất ký hiệu thửa đất số 74-2 thuộc thửa đất số 74 cho:

    • Bà T và bà H1 được chia hưởng chung kỷ phần thừa kế di sản của cụ L2 là quyền sử dụng 548,25 m² đất và sở hữu các tài sản, cây cối gắn liền với diện tích đất tại thửa đất ký hiệu số 74-2 giới hạn bởi các điểm 7,10,11,1,1',6',7 trong sơ đồ.
    • Bà L và ông L1 được được chia hưởng chung kỷ phần thừa kế di sản của cụ L2 là quyền sử dụng 548,25m² đất và sở hữu các tài sản, cây cối gắn liền với đất tại thửa đất ký hiệu số 74-2 giới hạn bởi các điểm 6,6',1',2,6 trong sơ đồ.
    • Bà T tiếp tục được sử dụng và sở hữu các tài sản, cây cối gắn liền trên thửa đất ký hiệu số 74-1 diện tích 1031,3m² giới hạn bởi các điểm 7,8,9,10,7 trong sơ đồ. Diện tích đất ngõ đi vào nhà, đất của bà L phía sau có chiều rộng 2m là của riêng bà L.
    • Ông L1 tiếp tục được sử dụng và sở hữu các tài sản, cây cối gắn liền trên thửa đất ký hiệu số 74-3 diện tích 658,1m² giới hạn bởi các điểm 5,6,2,4,5 trong sơ đồ. Diện tích đất ngõ đi vào nhà, đất của ông L1 phía sau có chiều rộng 2m là của riêng ông L1.

    Sự thỏa thuận của các đương sự không vi phạm điều cấm của pháp luật; phù hợp với sơ đồ đo thực tế và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

    Tuy nhiên:

    Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án không có căn cứ xác định thửa đất số 74 có diện đất ở, đất trông cây lâu năm là bao nhiêu m². Do đó cấp sơ thẩm tự xác định diện tích đất ở, đất trồng cây lâu năm là không có căn cứ. Hội đồng xét xử không xác định diện tích đất ở, đất trồng cây lâu năm đối với diện tích đất các đương sự được phân chia. Vì các đương sự đã thỏa thuận: Với diện tích đất và các tài sản gắn liền trên đất được phân chia thì có quyền, nghĩa vụ chủ động đăng ký kê khai, xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất được chia với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nên các đương sự phải chấp hành Quyết định của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xác định loại đất, mục đích sử dụng đất theo quy hoạch và phê duyệt của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tại thời điểm đăng ký kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản.

  3. Về án phí:
    1. Giữ nguyên quyết định của cấp sơ thẩm về việc: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho các bà Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị T.
    2. Ông Nguyễn Kiều L1 được hưởng thừa kế 1/2 của 548,25m² đất tương ứng 274,125m²; theo Biên bản định giá ngày 26/7/2024 là 825.000 đồng/m². Xác định kỷ phần thừa kế của ông L1 được trị giá thành tiền (274,125m² x 825.000 đồng/m²) là 226.153.125 đồng. Do đó ông L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (226.153.125 đồng x 5%) là 11.307.656,25 (làm tròn là11.307.656) đồng. Đối với việc ông L1 được tiếp tục sử dụng và sở hữu các tài sản, cây cối gắn liền trên thửa đất ký hiệu số 74-3 là được hưởng theo Quyết định số 05/QĐ-HGT ngày 01/10/2002 nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

    Do sửa án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; tạm ứng án phí phúc thẩm ông L1 đã nộp được đối trừ với nghĩa vụ án phí phải chịu.

Quan điểm của Kiểm sát viên là đúng quy định pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • Các Điều 147,148,300, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Các Điều 609,611,612,613,623,649,650,651,660 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Luật người cao tuổi.

Xử:

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Cụ thể:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của bà Nguyễn Thị H1 và Nguyễn Thị T.
    1. Xác định cụ Nguyễn Thị L2 chết ngày 15/02/2004 không để lại di chúc. Thời điểm mở thừa kế của cụ L2 là ngày cụ chết. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ L2 gồm: Bà Nguyễn Thị H1; bà Nguyễn Thị T; bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Kiều Lưu .
    2. Xác nhận di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị L2 là quyền sử dụng thửa đất số 74-2; diện tích 1096,5m²; giới hạn bởi các điểm 6,7,10,11,1,2,6 thuộc thửa đất số 74, tờ bản đồ số 01 tại: Thôn K, xã K, thị xã S, Thành phố Hà Nội được chia thừa kế theo pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ L2.
    3. Ghi nhận việc các đương sự tự nguyện thỏa thuận phân chia:
      1. Chia cho bà Nguyễn Thị H1 và bà Nguyễn Thị T được hưởng chung quyền sử dụng diện tích đất 548,25 m² và sở hữu toàn bộ các tài sản, cây cối gắn liền trên diện tích đất được hưởng; giới hạn bởi các điểm 7,10,11,1,1',6',7 trong sơ đồ kèm theo bản án thuộc khối di sản của cụ Nguyễn Thị L2 để lại đã được xác định tại điểm 1.2 khoản 1 Quyết định của bản án.
      2. Chia cho bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Kiều L1 được hưởng chung quyền sử dụng diện tích đất 548,25 m² và sở hữu toàn bộ các tài sản, cây cối gắn liền trên diện tích đất được hưởng; giới hạn bởi các điểm 6,6',1',2,6 trong sơ đồ kèm theo bản án thuộc di sản của cụ Nguyễn Thị L2 để lại đã được xác định tại điểm 1.2 khoản 1 Quyết định của bản án.
  2. Ghi nhận việc các đương sự tự nguyện xác định:
    1. Bà Nguyễn Thị T được tiếp tục sử dụng và sở hữu toàn bộ tài sản, cây cối gắn liền trên thửa đất ký hiệu số 74-1, diện tích 1031,3m²; Giới hạn bởi các điểm 7,8,9,10,7 trong sơ đồ kèm theo bản án. Tại địa chỉ: Thôn K, xã K, thị xã S, Thành phố Hà Nội. Diện tích đất ngõ đi vào nhà, đất của bà Nguyễn Thị L ở phía sau có chiều rộng 2 m là của riêng bà Nguyễn Thị L
    2. Ông Nguyễn Kiều L1 được tiếp tục sử dụng và sở hữu toàn bộ tài sản, cây cối gắn liền trên thửa đất ký hiệu số 74-3, diện tích 658,1m²; giới hạn bởi các điểm 5,6,2,4,5 trong sơ đồ kèm theo bản án. Tại địa chỉ: Thôn K, xã K, thị xã S, Thành phố Hà Nội. Diện tích đất ngõ đi vào nhà đất của ông Nguyễn Kiều L1 ở phía sau có chiều rộng 2m là thuộc thửa đất số 48, tờ bản đồ số 01 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 767034 do UBND thành phố S đã cấp cho hộ ông Nguyễn Kiều L1 ngày 19/8/2008.
  3. Người được quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản tại tiểu điểm 1.3.1; 1.3.2 điểm 1.3 khoản 1 và điểm 2.1; điểm 2.2 khoản 2 Quyết định của bản án có quyền, nghĩa vụ chủ động đăng ký kê khai; Đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất được phân chia tại Cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Phải có nghĩa vụ chấp hành Quyết định của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc xác định loại đất, mục đích sử dụng đất theo quy hoạch và phê duyệt của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tại thời điểm đăng ký kê khai; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản.
  4. Về án phí:
    1. Miễn toàn bộ án phí dân sự cho các bà Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L.
    2. Ông Nguyễn Kiều Lưu K phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Buộc ông Nguyễn Kiều L1 phải chịu 11.307.656 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Được đối trừ với 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23 số 0000971 ngày 07/10/2024 tại Chi cụ thi hành án dân sự thị xã S, Thành phố Hà Nội. Còn phải nộp tiếp 11.007.656 (Mười một triệu, không trăm linh bảy nghìn, sáu trăm lăm mươi sáu) đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • Các đương sự;
  • VKSND TP Hà Nội;
  • TAND thị xã Sơn Tây;
  • CCTHADS thị xã Sơn Tây;
  • Lưu HS, VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 398/2025/DS-PT ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số bản án: 398/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Nguyễn Thị H1 Bị đơn: Nguyễn Thị L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger