|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 398 /2023/HS-PT Ngày: 28 - 11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hồng Sơn
Các Thẩm phán:1/ Ông Bùi Đức Nam
2/ Ông Lê Công Huân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm- Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 376/2023/TLPT-HS, ngày 18/10/2023 đối với bị cáo Lương Tấn B do có kháng cáo của bị cáo Lương Tấn B đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 222/2023/HSST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lương Tấn B; giới tính: N; sinh năm: 1991 tại tỉnh Cà Mau; hộ khẩu thường trú: Số A đường số H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Căn hộ C chung cư M, số E đường K, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Lương Hồng T, sinh năm 1966 và bà Đặng Thanh T1, sinh năm 1967; bị cáo sống chung như vợ chồng với Vòng Phương M, sinh năm 1998 và 01 con tên Lương Hoàng Danh S, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 09/4/2023 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 19 giờ ngày 09/4/2023, tại chung cư M địa chỉ E K, phường A, quận B, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận B phối hợp với Công an phường A, quận B kiểm tra căn hộ C của Lương Tấn B. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong hộc tủ quần áo trong phòng ngủ của Bền 01 gói nylon chứa 03 viên nén màu tím và 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý nên đã đưa B về trụ sở để lập biên bản phạm tội quả tang. Hồ sơ vụ án và vật chứng được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B thụ lý, điều tra theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ, tạm giữ trong vụ án gồm:
- 01 gói nylon chứa 03 viên nén màu tím và 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số thuê bao 0901.033.xxx. Đây là điện thoại B dùng để liên lạc với đối tượng bán ma túy; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số thuê bao 0939.888.xxx. Đây là điện thoại của chị Vòng Phương M (vợ của B) dùng để liên lạc với gia đình và bạn bè, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị M.
Những vật chứng trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân tạm giữ chờ xử lý.
Tại bản kết luận giám định số 3438/KL-KTHS ngày 17/4/2023 Phòng K Công an Thành phố H kết luận: 03 viên nén màu tím là ma túy ở thể rắn loại MDMA, có khối lượng 1,1332 gam và tinh thể màu trắng là ma túy ở thể rắn loại Ketamine, có khối lượng 4,2230 gam.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, bị cáo Lương Tấn B khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên vào ngày 04/4/2023 tại trước chung cư M địa chỉ E K, phường A, quận B, B mua số ma túy trên của người thanh niên tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) thông qua mạng xã hội Telegram với giá 4.000.000 đồng. Sau đó, B cất số ma túy trong hộc tủ quần áo trong phòng ngủ. Mục đích B mua ma túy để sử dụng riêng cho bản thân, B sống cùng vợ và con trai 06 tháng tuổi, vợ B không biết và không liên quan đến việc B tàng trữ trái phép chất ma túy. Lời khai của B không có mâu thuẫn, phù hợp với lời khai người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 219/CT-VKS ngày 17/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lương Tấn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 222/2023/HSST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lương Tấn B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/4/2023.
Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/9/2023, bị cáo Lương Tấn B có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
Bị cáo Lương Tấn B đã thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo thực hiện như Bản án sơ thẩm đã xác định, bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do gia đình bị cáo có công cách mạng, bà là mẹ Việt Nam anh hùng, ông nội bị cáo là liệt sĩ, quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo Lương Tấn B có nhiều đóng góp được Ủy ban nhân dân B1, ghi nhận tấm lòng vàng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu:
Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên bị cáo Lương Tấn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Xét kháng cáo của bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm, gia đình bị cáo cung cấp được thêm tình tiết giảm nhẹ mới: gia đình bị cáo có công cách mạng, ông nội bị cáo là liệt sĩ, quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo Lương Tấn B có nhiều đóng góp được ủy ban nhân dân B1, ghi nhận tấm lòng vàng, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp và tương xứng với tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội. Từ đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo để giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Ngày 08/9/2023, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm. Đến ngày 14/9/2023, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đơn kháng cáo của bị cáo được lập trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
- Tại phiên tòa, trên cơ sở toàn bộ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai về toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và nội dung bản án sơ thẩm đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 09/4/2023, tại căn hộ C chung cư M địa chỉ E K, phường A, quận B, bị cáo B đã có hành vi tàng trữ 01 gói nylon chứa 03 viên nén màu tím là ma túy ở thể rắn loại MDMA, có khối lượng 1,1332 gam và 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng là ma túy ở thể rắn loại Ketamine, có khối lượng 4,2230 gam nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “có hai chất ma túy trở lên" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tòa án nhân dân quận Bình Tân đã xét xử bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.
-
Xét kháng cáo của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, với lý do gia đình bị cáo có công cách mạng, bà cố nội là mẹ Việt Nam anh hùng, ông nội bị cáo là liệt sĩ, quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo Lương Tấn B có nhiều đóng góp được Ủy ban nhân dân B1, ghi nhận tấm lòng vàng.
Khi lượng hình thì Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đó là: bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo cùng vợ là lao động chính trực tiếp nuôi con đang còn nhỏ (con tên Lương Hoàng Danh S, sinh năm 2022); hiện vợ của bị cáo mới sinh con chưa đi làm lại để tạo ra thu nhập lo cho cuộc sống gia đình nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và tại phiên tòa phúc thẩm gia đình bị cáo cung cấp được thêm tình tiết giảm nhẹ gia đình bị cáo có công cách mạng, có bà cố nội là mẹ Việt Nam anh hùng, ông nội bị cáo là liệt sĩ, quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo Lương Tấn B có nhiều đóng góp được Ủy ban nhân dân B1, ghi nhận tấm lòng vàng (có xác nhận của cấp có thẩm quyền), đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Với các tình tiết giảm nhẹ mới nêu trên, bị cáo phạm tội lần đầu, nên Hội đồng xét xử thấy mức án 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đối với bị cáo mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Từ đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lương Tấn B và sửa án Bản án sơ thẩm theo hướng giảm cho bị cáo một phần hình phạt, cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe đối với bị cáo.
- Lập luận trên đây cũng là căn cứ để không chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.
- Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Tấn B và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 222/2023/HSST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lương Tấn B 01 (một) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/4/2023
-
Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết quyết định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí toà án, của Ủy ban thường vụ Q.
Bị cáo Lương Tấn B không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hồng Sơn |
Bản án số 398/2023/HS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 398/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Tấn Bền 01 (một) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
