|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 397/2024/DS-PT Ngày: 25-7-2024 “V/v tranh chấp dân sự- vay tài sản; |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Minh Tùng; |
| Các Thẩm phán: | Ông Sỹ Danh Đạt; |
| Ông Đinh Chí Tâm. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Võ Thị Trang- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 24/7 và 25/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 318/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp dân sự- vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 248/2023/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 389/2024/QĐ-PT ngày 04/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thanh T, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Ông Vũ Tuấn A, sinh năm 1970. Địa chỉ: Số A, đường C, Phường C, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Bà Trương Thị L, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Anh Triệu Trọng Đ, sinh năm 1989. Địa chỉ liên lạc: Số A, đường L, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Mạnh C, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Chị Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 1987. Địa chỉ: Tổ B, Khóm B, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Bà Trương Thị L và ông Lê Mạnh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày: Do có mối quan hệ thân thiết, nên bà T có cho bà L, ông C vay tiền nhiều lần, cụ thể:
- Ngày 17/10/2021 âm lịch (nhằm ngày 21/11/2021 dương lịch) vợ chồng bà L, ông C vay bà T số tiền 80.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 1,66% tháng, có lập biên nhận do bà L ký tên.
- Cùng ngày 17/10/2021 âm lịch (nhằm ngày 21/11/2021 dương lịch) vợ chồng bà L, ông C vay tiếp số tiền 276.760.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 1,66% tháng, có lập biên nhận do bà L ký tên. Sau đó vợ chồng bà L vay tiếp tục số tiền 53.200.000 đồng, cũng mức lãi suất như trên, viết tiếp vào biên nhận và do bà L ký tên.
Như vậy, trong ngày 17/10/2021 âm lịch (nhằm ngày 21/11/2021 dương lịch) vợ chồng bà L, ông C vay của bà T tổng số tiền là 409.960.000 đồng. Vợ chồng bà L có đóng lãi cho bà T được 04 tháng từ ngày 21/11/2021 đến ngày 21/3/2022 là 27.000.000 đồng. Sau đó, vợ chồng bà L không thực hiện việc đóng lãi vay cho bà T.
- Ngày 24/02/2022 âm lịch (nhằm ngày 26/3/2022 dương lịch) vợ chồng bà L, ông C vay bà T số tiền 80.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 1,66% tháng, có lập biên nhận do bà L ký tên. Đối với khoản tiền vay này vợ chồng bà L chưa thực hiện việc đóng lãi vay cho bà T.
Tổng số tiền vay là 489.960.000 đồng, bà T thỏa thuận khi nào bà cần thì bà L, ông C phải trả đủ tiền gốc và lãi; Mục đích vay tiền để làm ăn mua bán và chữa bệnh cho ông C. Để đảm bảo cho số tiền vay trên thì vợ chồng bà L, ông C có đưa cho bà T giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp cho hộ ông Lê Mạnh C vào ngày 11/3/2022 đối với đất thửa 4, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Việc giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được ghi nhận trong Biên nhận vay ngày 24/02/2022 âl, hiện nay bà T vẫn đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do cần tiền nên bà T nhiều lần yêu cầu bà L, ông C trả số tiền vay gốc và lãi nhưng bà L hứa hẹn nhiều lần mà không thực hiện, cố tình tránh né.
Theo đơn khởi kiện, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L, ông C liên đới trả cho bà T tổng số tiền tính đến ngày 23/02/2023 là 578.613.362 đồng, bao gồm tiền gốc là 489.960.000 đồng, lãi tính từ ngày 26/3/2022 đến ngày 23/02/2023 là 88.653.362 đồng. Và yêu cầu tiếp tục tính lãi trên số nợ gốc 489.960.000 đồng với lãi suất với mức 1,66% tháng từ ngày 24/02/2023 cho đến khi giải quyết xong vụ án. Khi bà L, ông C trả đủ tiền vay gốc và lãi cho bà T thì bà sẽ trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
Tại phiên toà, đại diện nguyên đơn yêu cầu buộc bà L, ông C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà T số tiền vay gốc là 489.960.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 26/3/2022 đến ngày 27/12/2023 là 170.800.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 660.760.000 đồng (sáu trăm sáu mươi triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn đồng). Và yêu cầu lãi chậm thi hành án theo quy định pháp luật.
Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên hộ ông Lê Mạnh C thì nguyên đơn đồng ý tự nguyện trả lại cho bà L và ông C.
2. Trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, bị đơn bà Trương Thị L trình bày: Do quen biết với bà T nên bà có vay tiền của bà T nhiều lần, tổng số tiền vay là 80.000.000 đồng theo biên nhận ngày 17/10/2021 âm lịch (nhằm ngày 21/11/2021 dương lịch), lãi suất 50.000đ/1.000.000 đồng/tháng, mục đích vay để làm ăn mua bán.
Đối với các lần vay khác tại biên nhận ngày 17/10/2021 âm lịch số tiền 276.760.000 đồng và số tiền 53.200.000 đồng thì bà không thừa nhận.
Sau đó, bà có giao bằng khoán (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) tên hộ ông Lê Mạnh C cho bà T để đảm bảo trả nợ và có làm biên nhận ngày 24/02/2022 âm lịch (nhằm ngày 26/3/2022) số tiền 80.000.000 đồng, biên nhận này bà không có nhận tiền mà để trừ cấn số tiền mà bà đã vay trước đây của bà T là 80.000.000 đồng.
Như vậy, bà chỉ thừa nhận có vay và nợ bà T số tiền 80.000.000 đồng. Bà không thừa nhận các lần vay khác, cũng như không thừa nhận chữ ký trong biên nhận ngày 17/10/2021 âm lịch đối với hai khoản tiền 276.760.000 đồng và 53.200.000 đồng do nguyên đơn cung cấp.
Bà có trả lãi cho bà T nhiều lần, trả lãi đến tháng 9/2022 nhưng không nhớ số tiền lãi đã trả là bao nhiêu. Tại phiên toà trước bà có yêu cầu giám định chữ ký chữ viết trong biên nhận 17/10/2021 âm lịch đối với hai khoản tiền 276.760.000 đồng và 53.200.000 đồng và bà cũng đã được thông báo kết luận giám định.
Nay bà chỉ đồng ý trả cho bà T tiền gốc vay là 80.000.000 đồng và lãi suất đối với số tiền này theo yêu cầu của nguyên đơn. Các yêu cầu còn lại của nguyên đơn, bà không đồng ý. Ngoài ra, bà không yêu cầu gì khác. Đối với việc vay tiền này thì chồng bà là ông C không biết nên không liên quan.
3. Trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Mạnh C trình bày: Ông và bà L là vợ chồng hợp pháp, vợ chồng chung sống trên 30 năm, tại tổ B, ấp B, xã M, huyện C. Bà L hàng ngày mua bán rau củ tại chợ M, huyện C, kinh tế sinh hoạt hằng ngày thì bà L phụ trách; ông làm ruộng vườn tại nhà và có đi giữ vườn xoài thuê tại địa phương cũng có thu nhập thêm.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là yêu cầu bà L, ông C liên đới trả cho bà T số tiền vay gốc là 489.960.000 đồng và tiền lãi từ ngày 26/3/2022 đến ngày 27/12/2023 là 170.800.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 660.760.000 đồng (sáu trăm sáu mươi triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) thì ông không đồng ý. Ông cho rằng việc vay nợ của bà L thì ông không biết. Ông không biết bà T là ai, ông không có hỏi vay tiền bà T và không có nhận tiền từ bà T. Nếu ông cùng với bà L có ký nhận nợ thì ông đồng ý cùng bà L trả tiền vay cho bà T. Ngoài ra, ông không yêu cầu gì khác.
3. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
3.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thanh T.
- Buộc bà Trương Thị L và ông Lê Mạnh C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thanh T số tiền vay gốc là 489.960.000 đồng và tiền lãi là 170.800.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 660.760.000 đồng (sáu trăm sáu mươi triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3.2. Ghi nhận sự tự nguyện của phía nguyên đơn là trả lại cho bị đơn bà Trương Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Mạnh C giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số GCN: CS08819 đối với thửa 4, tờ bản đồ số 6 tên hộ ông Lê Mạnh C, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 11/3/2022.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và tuyên về thời hạn kháng cáo.
4. Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Trương Thị L và ông Lê Mạnh C kháng cáo một phần bản án sơ thẩm và yêu cầu như sau:
- Bà Trương Thị L yêu cầu xem xét giải quyết sửa bản án sơ thẩm số 248/2023/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà L chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền 80.000.000 đồng. Ông Lê Mạnh C không có vay tiền nên liên quan, không liên đới trả nợ.
- Ông Lê Mạnh C yêu cầu xem xét giải quyết sửa bản án sơ thẩm số 248/2023/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông Lê Mạnh C không có vay tiền nên liên quan, không liên đới trả nợ.
5. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; không đồng ý với nội dung kháng cáo của bị đơn. Đồng ý tính lãi cho bị đơn mức lãi suất 0.83%/tháng và đồng ý tính thời điểm tính lãi theo quy định pháp luật.
- Bị đơn Trương Thị L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giữ nguyên cầu kháng cáo về số tiền phải trả. Về phần lãi suất và thời hạn tính lãi thống nhất theo yêu cầu của nguyên đơn.
- Người liên quan Lê Mạnh C không đồng liên đới cùng bị đơn trả nợ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Trương Thị L về điều chỉnh lãi suất và thời điểm tính lãi theo sự tự nguyện điều chỉnh của nguyên đơn. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Mạnh C.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền vay và tiền lãi còn nợ nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp dân sự- vay tài sản” là phù hợp với quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm nên có kháng cáo. Tòa án T1 thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
2.1 Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn bà Trần Thanh T ủy quyền ông Vũ Tuấn A có yêu cầu như sau:
- Số vốn phải trả là 489.960.000 đồng.
- Về phần lãi suất: Đồng ý tính lãi suất phải trả của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan với mức 0,83%/tháng tính từ quyền lợi nguyên đơn bị xâm hại tức ngày khởi kiện đến Tòa án là ngày 21/11/2022 đến khi xét xử sơ thẩm (27/12/2023) và đến khi thi hành án xong theo yêu cầu của bị đơn, khấu trừ vào số tiền lãi đã nhận 27.000.000 đồng. Lãi suất được tính như sau:
(489.960.000.000 đồng x 0.83%/tháng x 13.2 tháng) – 27.000.000 đồng = 26.680.000 đồng.
Như vậy vốn và lãi bị đơn Trương Thị L và người liên quan Lê Mạnh C phải trả cho bà Trần Thanh T số tiền là: 489.960.000 đồng + 26.680.000 đồng = 516.640.000 đồng.
- Nguyên đơn đồng ý trả lại cho bị đơn bà Trương Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Mạnh C giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS08819 đối với thửa 4, tờ bản đồ số 6 tên hộ ông Lê Mạnh C, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 11/3/2022.
2.2 Xét kháng cáo của bị đơn Trương Thị L Hội đồng xét xử xét thấy:
- Nguyên đơn khởi kiện bị đơn và người liên quan trả nợ theo 03 biên nhận:
+ Ngày 17/10/2021 âm lịch (nhằm ngày 21/11/2021 dương lịch) số tiền 80.000.000 đồng; cùng ngày 17/10/2021 âm lịch (nhằm ngày 21/11/2021 dương lịch) vay số tiền 276.760.000 đồng và 53.200.000 đồng; Ngày 24/02/2022 âm lịch (nhằm ngày 26/3/2022 dương lịch) vay số tiền 80.000.000 đồng.
+ Bà Trương Thị L chỉ thừa nhận có vay theo biên nhận ngày 24/02/2022 (âm lịch). Tuy nhiên, tại Kết luận giám định số 1155/KL-KTHS ngày 24/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ xác định chữ ký trong các biên nhận do nguyên đơn cung cấp đều là chữ ký của bị đơn Trương Thị L. Mặt khác, bà L không có chứng cứ nào khác để khấu trừ hoặc đã trả nợ xong theo các biên nhận của nguyên đơn cung cấp. Do đó, xác định bị đơn Trương Thị L có vay tiền theo các biên nhận nguyên đơn cung cấp là 489.960.000 đồng.
- Về phần lãi suất vay và thời điểm tính lãi thì bị đơn thống nhất theo yêu cầu của nguyên đơn nên ghi nhận sự thỏa thuận lãi suất và thời điểm tính lãi của hai bên.
2.3 Xét kháng cáo của người liên quan ông Lê Mạnh C Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại các biên nhận không thể hiện có ý kiến hay chữ ký của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông C, phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và bị đơn cũng không biết việc vay tiền này. Tuy nhiên, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thừa nhận ông với bị đơn là vợ chồng hợp pháp; bị đơn thừa nhận mục đích vay tiền làm vốn mua bán, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng xác định kinh tế sinh hoạt gia đình hằng ngày do bị đơn phụ trách; ngoài ra, giao dịch vay tiền thực hiện trong thời kỳ hôn nhân của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và như nhận định trên thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết việc vay tiền này. Nên có cơ sở xác định mục đích sử dụng số tiền vay là nhằm mục đích duy trì kinh tế chung gia đình và nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình. Căn cứ Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông C phải chịu trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ mà bị đơn vay của nguyên đơn.
Do đó, bà Trương Thị L và ông Lê Mạnh C phải có nghĩa vụ liên đới trả vốn và lãi cho nguyên đơn số tiền 489.960.000 đồng + 26.680.000 đồng = 516.640.000 đồng.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Trương Thị L về phần điều chỉnh lãi suất và thời hạn tính lãi; không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Mạnh C. Sửa một phần bản án sơ thẩm về phần lãi suất.
Do kháng cáo bà L được chấp nhận một phần nên sửa lại phần án phí dân sự. Về án phí phúc thẩm bà L không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm, ông C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Việc sửa án sơ thẩm do nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận về phần lãi suất và thời điểm tính lãi tại cấp phúc thẩm, không phải lỗi của Tòa án sơ thẩm.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xét lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ và phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 điều 26, khoản 1 Điều 38; Điều 148, khoản 2 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 48- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Chấp chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Trương Thị L.
2. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Mạnh C.
3. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 248/2024/DS-ST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh;
* Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thanh T.
2/ Buộc bà Trương Thị L và ông Lê Mạnh C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thanh T số tiền vay và lãi còn nợ là 516.640.000 đồng (năm trăm mười sáu triệu, sáu trăm bốn mươi ngàn).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3/ Ghi nhận sự tự nguyện của phía nguyên đơn về việc trả lại cho bị đơn bà Trương Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Mạnh C giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS08819 đối với thửa 4, tờ bản đồ số 6 tên hộ ông Lê Mạnh C, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 11/3/2022.
4/ Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Bà Trương Thị L và ông Lê Mạnh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 25.832.000 đồng (hai mươi lăm triệu tám trăm ba mươi hai ngàn).
+ Bà Trần Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 13.040.000 đồng (mười ba triệu, không trăm bốn mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014870 ngày 13 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Về án phí phúc thẩm:
+ Bà Trương Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai số 0008644 ngày 23/5/2024 của Chi cục thi hành án huyện Cao Lãnh.
+ Ông Lê Mạnh C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng |
Bản án số 397/2024/DS-PT ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự- vay tài sản
- Số bản án: 397/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự- vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
