TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 397/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20/11/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thơm
Bà Dương Thị Kim Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 431/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 487/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 1990
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
Người được anh T ủy quyền giao, nhận văn bản tố tụng: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1980, Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993,
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1958,
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương.
Anh T, chị H, chị T1 và bà T2 đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Trọng T trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị H tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương vào ngày 28/4/2011 và được
hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại cùng gia đình bố mẹ đẻ anh T. Năm 2018, anh T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan để phát triển kinh tế gia đình. Thời gian đầu anh T thường xuyên gọi điện, gửi tiền về cho vợ con. Đến tháng 7/2020 chị H nảy sinh mâu thuẫn với gia đình nhà chồng nên đã tự ý bỏ ra ngoài thuê trọ. Tháng 6/2023 anh T về Việt Nam nghỉ phép đã khuyên bảo để chị H về nhà tiếp tục nuôi dạy các con. Sau khi anh T quay lại Đài Loan để tiếp tục công việc thì vợ chồng tiếp tục nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T nghi ngờ chị H về tình cảm vợ chồng. Anh T đã nhiều lần nói chuyện nhưng vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Nay anh xác định vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn đã trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Trọng N, sinh ngày 30/10/2011, Nguyễn Trọng T3, sinh ngày 11/12/2015 và Nguyễn Trọng H1, sinh ngày 08/01/2018. Hiện các con chung đang ở cùng với gia đình anh T. Hiện nay chị H không đủ điều kiện chăm sóc con chung nên vợ chồng đã thống nhất để anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cả 03 con chung. Anh T tự nguyện không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Về thời điểm kết hôn như anh T trình bày là đúng. Chị xác định sau khi kết hôn vợ chồng sống chung tại gia đình nhà anh T. Vợ chồng chung sống có một vài mâu thuẫn nhỏ không đáng kể đến năm 2018 anh T đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan, còn chị ở lại Việt Nam. Anh T đi nước ngoài được 02 năm thì bắt đầu vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, anh chị đã tự hòa giải nhưng đến tháng 6/2024 thì vợ chồng tiếp tục nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng xa cách nên không có sự đồng cảm, chia sẻ trong cuộc sống. Anh T có về Việt Nam thăm gia đình, chị có đề nghị anh T không đi nước ngoài nữa mà về Việt Nam chung sống cùng chị nhưng anh T không nhất trí và đã quay lại Đài Loan làm việc. Nay anh T có đơn xin ly hôn, chị xác định vợ chồng đã nảy sinh mâu thuẫn không thể hòa giải, chị nhất trí ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Trọng N, sinh ngày 30/10/2011, Nguyễn Trọng T3, sinh ngày 11/12/2015 và Nguyễn Trọng H1, sinh ngày 08/01/2018, hiện nay cả 03 con chung đều đang ở với gia đình anh T. Chị nhất trí để anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cả 03 con chung cho đến khi trưởng thành. Trong thời gian anh T đang ở nước ngoài nhờ mẹ đẻ của anh T là bà Đỗ Thị T2 thay anh T chăm sóc các con chung, chị nhất trí. Việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị T2 trình bày: Bà là mẹ
đẻ của anh Nguyễn Trọng T, anh T nhờ bà chăm sóc các con chung Nguyễn Trọng N, sinh ngày 30/10/2011, Nguyễn Trọng T3, sinh ngày 11/12/2015 và Nguyễn Trọng H1, sinh ngày 08/01/2018 trong thời gian anh T đang lao động ở nước ngoài, bà nhất trí.
Tại phiên tòa: Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; chị H có đơn xin xét xử vắng mặt; Bà T2, chị T1 có quan điểm xin vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho anh Nguyễn Trọng T được ly hôn chị Nguyễn Thị H; Về con chung: Giao cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 03 con chung Nguyễn Trọng N, sinh ngày 30/10/2011, Nguyễn Trọng T3, sinh ngày 11/12/2015 và Nguyễn Trọng H1, sinh ngày 08/01/2018 đến khi con chung trưởng thành. Công nhận sự thỏa thuận của anh T, chị H về việc anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Anh Nguyễn Trọng T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị Nguyễn Thị H. Anh T hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan, chị H đang sinh sống tại Hải Dương. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Tại phiên tòa anh T, chị H, bà T2 và chị T1 đều đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị H được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương vào ngày 28/4/2011 là hôn nhân hợp pháp. Năm 2018, anh T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan đến nay chưa về nước, còn chị H ở lại Việt Nam. Do xa cách nên vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Anh T có đơn xin ly hôn, chị H nhất trí. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa
anh T và chị H không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho anh T được ly hôn chị H là phù hợp.
[2.2]. Về con chung: Chị H và anh T có 03 con chung là Nguyễn Trọng N, sinh ngày 30/10/2011, Nguyễn Trọng T3, sinh ngày 11/12/2015 và Nguyễn Trọng H1, sinh ngày 08/01/2018 hiện đều đang ở cùng gia đình anh T. Vợ chồng thỏa thuận để anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung và chị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Trong thời gian anh T đang lao động ở Đài Loan, anh T nhờ mẹ đẻ là bà Đỗ Thị T2 thay anh T chăm sóc các con chung cho đến khi anh T về nước, chị H và bà T2 nhất trí.
Xét thấy cả 03 con chung hiện đang ở cùng gia đình anh T và cháu N, cháu T3 đều có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng bố. Để ổn định cuộc sống cũng như học tập của con chung cần chấp nhận thỏa thuận của các đương sự, giao 03 con chung cho anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Tạm giao cháu N, cháu T3 và cháu H1 cho bà Đỗ Thị T2 chăm sóc trong thời gian anh T đang lao động ở nước ngoài. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.
Chị Nguyễn Thị H được quyền thăm nom các con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Anh T phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trọng T.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Trọng T được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
- Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Trọng T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung Nguyễn Trọng N, sinh ngày 30/10/2011, Nguyễn Trọng T3, sinh ngày 11/12/2015 và Nguyễn Trọng H1, sinh ngày 08/01/2018,
thời gian từ tháng 11/2024 đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng anh T.
Tạm giao cháu N, cháu T3 và cháu H1 cho bà Đỗ Thị T2 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh T không ở Việt Nam.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Nguyễn Trọng T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005127 ngày 01/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Trọng T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; Chị Nguyễn Thị H, bà Đỗ Thị T2 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Trường |
Bản án số 397/2024/HNGĐ-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 397/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng T xin ly hôn Nguyễn Thị H và tranh chấp nuôi con chung
