Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 397/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26/9/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tám

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan

Ông Trần Văn Chánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1593/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 304/2024/QÐST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 428/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969.
  • Địa chỉ: G, tổ B, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • - Bị đơn: Ông Đoàn Quốc H, sinh năm 1965.
  • Địa chỉ hộ khẩu thường trú: M, khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • Địa chỉ tạm trú: 77A, tổ B, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • Chỗ ở hiện nay: Số A, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • (Bà T có đơn xin vắng mặt, ông H vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà và ông Đoàn Quốc H tự nguyện chung sống với nhau, được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 205 ngày 23/11/1990. Từ khi kết hôn đến nay, vợ chồng chưa có ngày nào hạnh phúc. Vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do ông H có tính gia trưởng, hay dùng lời lẽ thô tục đối với bà, hay đi uống rượu và khi về nhà lại chửi bới, đánh đập bà. Có lần chị gái bà đến chơi cũng bị ông đánh. Do đó, vợ chồng không có tiếng nói chung, luôn bất đồng quan điểm, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Năm 2020, bà và các con bỏ nhà đi vì không chịu được tính cách của ông H. Năm 2021, vợ chồng đã ra Văn phòng công chứng ký văn bản thỏa thuận về tài sản và cùng năm 2021 bà đã làm đơn xin ly hôn. Sau đó, do Thẩm phán có hòa giải, cộng với các con và gia đình khuyên nhủ nên bà đã rút đơn và về nhà chung sống với ông H. Tuy nhiên, ông H vẫn không thay đổi. Ngày 11/6/2024, ông H bỏ nhà đi đâu bà không biết, thỉnh thoảng ông có về quậy phá, gây sự với bà. Khi biết bà làm đơn xin ly hôn thì ông đã chửi bới, đe dọa giết bà. Hiện nay bà và ông H không ai quan tâm đến ai. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đoàn Quốc H1, sinh ngày 14/12/1992 và Đoàn Ngọc Thanh T1, sinh ngày 04/5/2008. Ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Cháu H1 đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại Bản tự khai và Biên bản làm việc ngày 02/7/2024, bị đơn ông Đoàn Quốc H trình bày: Ông xác định hôn nhân giữa ông và bà T là tự nguyện và hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do bà T không nói chuyện với ông, không nấu cơm cho ông ăn, thỉnh thoảng ông có nói bậy vài câu với bà T. Hiện nay vợ chồng không nói chuyện với nhau, việc ai người đó làm, Tuy nhiên, ông vẫn còn tình cảm với bà T nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đoàn Quốc H1, sinh ngày 14/12/1992 và Đoàn Ngọc Thanh T1, sinh ngày 04/5/2008. Ông đồng ý giao cháu T1 cho bà T nuôi và ông không cấp dưỡng nuôi con. Cháu H1 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T2, cho bà T2 ly hôn ông H.Về con chung: đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Đoàn Ngọc Thanh T1, sinh ngày 04/5/2008 cho bà T2 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, tạm thời ông H không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị T xin ly hôn ông Đoàn Quốc H, ông H là bị đơn hiện đang cư trú tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Bà T, ông H chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 205 ngày 23/11/1990 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp theo Điều 5, 6, 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986. Nay bà T xin ly hôn, Tòa án căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
  3. Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Bà T xin ly hôn với ông H với lý do quá trình vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do do ông H có tính gia trưởng, hay dùng lời lẽ thô tục đối với bà, hay đi uống rượu và khi về nhà lại chửi bới, đánh đập bà. Quá trình làm việc tại Tòa án, ông H cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn do bà T không nói chuyện với ông nên thỉnh thoảng ông có nói bậy vài câu với bà. Hiện nay vợ chồng vẫn chung sống cùng nhà nhưng không nói chuyện với nhau, việc ai người ấy làm.

    Xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng bà T, ông H là có thật, được nguyên đơn và bị đơn xác nhận. Quá trình giải quyết vụ án, ông H không đồng ý ly hôn vì cho rằng còn tình cảm với bà T. Tại phiên hòa giải vào ngày 13/8/2024 ông H vắng mặt, bà T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Theo Đơn trình bày ngày 12/8/2024, ông H cho biết ông đang phải điều trị trầm cảm theo yêu cầu cuả bác sĩ nên bản thân bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, chưa đủ tỉnh táo để quyết định điều gì nên yêu cầu Tòa án tạm đình chỉ vụ án để điều trị bệnh. Tuy nhiên, ông H không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc ông đang điều trị bệnh trầm cảm như ông trình bày. Tại đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, bà T trình bày: mâu thuẫn giữa bà và ông H đã trầm trọng, ông H nại ra lý do bị bệnh không hợp tác lên tòa án để hòa giải, bà đề nghị Tòa án sớm đưa vụ án ra xét xử và giải quyết theo quy định pháp luật. Theo Luật Hôn nhân và gia đình, một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân là “hôn nhân tự nguyện” và “Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau...”. Ông H khai còn tình cảm với bà T nhưng không có hành động gì thể hiện mong muốn hàn gắn tình cảm với bà T, còn bà T thì kiên quyết ly hôn. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải giữa các đương sự nhưng không có kết quả. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà T và ông H đã rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T, cho bà T được ly hôn với ông H để cả hai sớm ổn định cuộc sống.

  4. Về con chung: Các đương sự xác nhận, quá trình chung sống, bà T và ông H có 02 con chung là cháu Đoàn Quốc H1, sinh ngày 14/12/1992 và Đoàn Ngọc Thanh T1, sinh ngày 04/5/2008. Cháu H1 đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1, ông H đồng ý giao cháu T1 cho bà T nuôi nên hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà T không có yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời ông H không cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, bà T, ông H có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ông H (không trực tiếp nuôi con) có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của trẻ, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

  5. Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  6. Về nợ chung: Các đương sự khai không có nợ chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  7. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  8. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
  9. Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều Điều 5, 6, 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T với bị đơn ông Đoàn Quốc H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Đoàn Quốc H
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Đoàn Ngọc Thanh T1, sinh ngày 04/5/2008 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung trưởng thành và có khả năng lao động. Cháu Đoàn Quốc H1, sinh ngày 14/12/1992 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

    Sau khi ly hôn, bà T, ông H có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ông H (không trực tiếp nuôi con) có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của trẻ, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 84, 110, 118 Luật hôn nhân gia đình.

  3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0004198 ngày 11/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, bà T đã nộp xong án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa ;
  • - UBND xã (phường) nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Tám

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 397/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 397/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị T và ông Đoàn Quốc H ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger