Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 397/2024/HSPT

Ngày: 26 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Đinh Thị Kiều Lương
Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Lệ Trang
Bà Hà Thị Thanh Nữ
- Thư ký phiên tòa:Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Phạm Quang Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 295/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo Trương Công L cùng đồng phạm do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 82/2024/HSST ngày 03/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 375/2024/QĐXX - PTHS ngày 14/8/2024.

Các bị cáo bị kháng cáo:

  1. Họ và tên: Trương Công L (tên gọi khác: Út N); Sinh năm: 1994 tại Đồng Nai.
  2. Nơi cư trú: số A, Võ Văn T, tổ B, khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Văn H, sinh năm 1962; và con bà: Võ Thị L1 (đã chết); Gia đình có 04 anh, chị, em, lớn nhất sinh năm 1985 (đã chết), nhỏ nhất là bị cáo; Có vợ: Nguyễn Thị Bảo T1, sinh năm 1997, có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 20/10/2017, bị Công an thị xã L (nay là thành phố L), tỉnh Đồng Nai xử phạt hành chính số tiền 300.000 đồng, về hành vi gây rối trật tự công cộng.

    Bị bắt để tạm giam từ ngày 29/7/2023 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an thành phố L (có mặt).

  3. Họ và tên: Nguyễn Ngọc Đ; Sinh năm 1992 tại Đồng Nai;
  4. Nơi cư trú: Tổ E, khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Thợ xăm hình; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1959; và con bà: Trần Thị Ngọc N1, sinh năm 1963; Gia đình có 02 chị, em, lớn nhất sinh năm 1989, Đ là con nhỏ nhất; Chưa có vợ, con có.

    Tiền án: Ngày 30/12/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 10 năm tù theo Bản án số 238/2012/HSST. Chấp hành xong án phạt tù ngày 16/12/2020.

    Tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 21/5/2009, bị Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai ra quyết định đưa vào Trường G, thời hạn 24 tháng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ra trường ngày 29/5/2011.

    Bị bắt tạm giam từ ngày 29/7/2023 cho đến nay (có mặt).

  5. Họ và tên: Trương Thành T3 (Trung Điếc); Sinh năm 1987 tại Đồng Nai.
  6. Nơi cư trú: 18, Võ Văn T, tổ B, khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Văn H, sinh năm 1962 và con bà: Võ Thị L1 (đã chết); Gia đình có 04 anh, chị, em, lớn nhất sinh năm 1985 (đã chết), nhỏ nhất sinh năm 1994; Có vợ: Võ Thị Thanh T4, sinh năm 1987 (đã ly hôn); có 01 người con sinh năm 2010.

    Tiền án: Ngày 26/02/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố L), tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 13/2019/HSST. Đến ngày 08/7/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 200/2019/HSPT. Chấp hành xong án phạt tù ngày 25/01/2023.

    Tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 20/10/2017, bị Công an thị xã L (nay là thành phố L), tỉnh Đồng Nai xử phạt hành chính số tiền 300.000 đồng, về hành vi gây rối trật tự công cộng.

    + Ngày 30/6/2010, bị Ủy ban nhân dân tỉnh Đ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 09/8/2012.

    Bị bắt tạm giam từ ngày 29/7/2023 cho đến nay (có mặt).

  7. Họ và tên: Lê Thành T5; Sinh năm 1991, tại Đồng Nai.
  8. Nơi cư trú: Tổ E, khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn N2, sinh năm 1952 và con bà: Nguyễn Thị N3, sinh năm 1953; Gia đình có 04 anh, chị, em, lớn nhất sinh năm 1976, bị cáo là con nhỏ nhất; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 22/7/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố L), tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 69/2009/HSST. Ngày 30/8/2010 được đặc xá.

    Bị bắt tạm giam từ ngày 29/7/2023 cho đến (có mặt).

  9. Họ và tên: Nguyễn Ngọc H1; Sinh năm 1996, tại Đồng Nai.
  10. Nơi cư trú: Tổ C, khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tiếp thị; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H2, sinh năm 1970 và con bà: Phan Thị Thanh H3, sinh năm 1975; Gia đình có 02 anh, em, bị cáo H1 là con lớn, nhỏ sinh năm 2002; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị bắt tạm giam từ ngày 01/8/2023 đến ngày 06/9/2023 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh (có mặt).

* Người bị hại: Anh Nguyễn Tuấn T6, sinh năm 2001.

Địa chỉ: Số A, tổ E, khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Nguyễn Duy B – Luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố H (có mặt).

Trong vụ án này còn có những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo nên Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Nội dung chính: Vào khoảng 9 giờ ngày 27/7/2023, Trương Công L và Nguyễn Ngọc Đ đang đi trên đường thuộc khu phố S, phường S, thành phố L thì gặp Mai Đức T7. Do T7 nợ số tiền 10.000.000 đồng của L không trả nên L và Đ có dùng tay đánh T7. Bực tức vì bị L và Đ đánh nên khi về nhà đến tối cùng ngày, T7 gọi điện thoại cho Đ thách thức và hẹn gặp để đánh nhau giải quyết mâu thuẫn. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Đ đang ở nhà tại tiệm xăm hình “N", thuộc khu phố N, phường S, thành phố L, Đồng Nai thì Đ gọi điện thoại cho L và T3 nói về việc T7 thách thức đòi chém Đ, khoảng 05 phút sau T3 đến tiệm xăm gặp Đ và hỏi “thằng nào”, Đ nói “thằng T7 sáng em với Út N đánh nó”, T3 nghe vậy chạy về nhà lấy 01 cây kiếm N4 gồm lưỡi và cán dài khoảng 01m mang xuống nhà Đ để bên hông cửa nhà Đ. Lúc này, Đ cũng vào nhà lấy 02 cây dao tự chế (01 cây dài khoảng 01m, 01 cây dạng dao bầu dài khoảng 60cm), Đ lấy cây dao dài khoảng 01m để bên hông cửa nhà. Khoảng một lúc sau thì Trương Công L được Nguyễn Ngọc H1 dùng xe máy chở đến nhà Đ, Lê Thành T5 chạy xe máy đến nhà Đ. Tại đây, L vào nhà lấy cây kiếm N dài khoảng 01 mét đang để bên hông cửa nhà Đ đưa cho T3 cầm, L cầm 01 cây kiếm N dài khoảng 01 mét, còn Đ cầm 01 con dao bầu dài khoảng 60cm.
  2. Sau đó, L lên xe của H1 đang đứng đợi chở đi, T3 và Đ leo lên xe của T5 chở đi tìm Mai Đức T7 để chém. Khi đến nhà của Nguyễn Anh T8 thì thấy có T8, Nguyễn Tuấn T6, Mai Đức T7, Mai Đức T9, Phạm Quốc T10 đang ngồi ăn nhậu sinh nhật của T8 tại đây. L và Đ cầm kiếm, dao xông vào, L cầm cây kiếm N dài khoảng 01 mét chạy vào cửa, T6 đang ngồi gần cửa thấy L cầm kiếm nên nhóm người định đứng dậy thì bị L giơ dao chém thẳng từ trên xuống vào cánh tay trái của T6 làm đứt lìa cánh tay, T3 thấy L chém đứt cánh tay của T6 nên đưa cây kiếm T3 đang cầm cho T7 cầm và chạy vào cáo ngăn L, Đ dùng con dao bầu đang cầm quơ qua, quơ lại và có giật lấy cây kiếm của T7 đang cầm (kiếm do T3 vừa đưa T7), T7 giật lại con dao bầu dài khoảng 60cm Đ đang cầm ra bỏ lên xe T7, Đ tiếp tục cầm cây kiếm dài khoảng 01 mét quơ qua quơ lại trúng vào lưng của Mai Đức T7. Sau khi L chém Thăng xong, L ra ngoài đưa cây kiếm N4 cho Đ cầm rồi chạy ra xe do H1 đang đứng đợi sẵn ngoài đầu hẻm, H1 chở L ra hướng quốc lộ A tẩu thoát, T7 lấy xe chở Đ về nhà của Đ, tại đây Đ lấy 03 cây kiếm và dao vứt vào bãi cỏ bên đường đối diện nhà Đức, T3 phụ giúp băng bó tay cho T6 sau đó cũng rời khỏi hiện trường.

  3. Giám định và kết luận giám định: Theo Giấy chứng nhận thương tích số 1355/CN-BV ngày 07/9/2023, của Bệnh viện Đ1 thể hiện, anh Nguyễn Tuấn T6 vào viện lúc 21 giờ 57 phút ngày 27/7/2023, ra viện lúc 23 giờ ngày 27/7/2023. Tình trạng thương tích lúc vào viện như sau:
    • Bệnh tỉnh, tiếp xúc tốt, da, niêm mạc nhạt màu.
    • Vết thương phức tạp đầu dưới xương cánh tay trái lộ gân cơ, xương, có kích thước 20cm x 10cm.

    Theo Giấy chứng nhận thương tích số 960/CN-BVCR ngày 05/9/2023, của Bệnh viện C1 thể hiện, anh Nguyễn Tuấn T6 vào viện ngày 28/7/2023, ra viện ngày 02/8/2023. Tình trạng thương tích lúc vào viện như sau:

    - Lâm sàng:

    • Bệnh nhân tỉnh.
    • Tay trái: Vết thương đứt gần lìa 1/3 trên cẳng tay, còn cầu da, kích thước khoảng 05cm.

    - Cận lâm sàng:

    • X- quang cánh tay, cẳng tay trái: Không thấy tổn thương xương cánh tay trái. Gãy 1/3 trên xương trụ trái.

    Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0936/KLTTCT-TTPYĐN ngày 26/9/2023, Trung tâm pháp y Sở Y kết luận:

    Các kết quả chính: Cụt 1/3 dưới cánh tay trái có hội chứng chi ma. Tỷ lệ: 66%.

    Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Tuấn T6 -2001 tại thời điểm giám định là: 66% (Sáu mươi sáu phần trăm).

    Vật gây thương tích: Vật sắc.

  4. Về vật chứng thu giữ và xử lý: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L thu giữ 01 cây kiếm nhật dài 01m, gồm lưỡi và cán; 01 xe máy hiệu Wave, màu trắng, biển số 60B2 – 891.70, do Lê Thành T5 đứng tên chủ sỡ hữu dùng làm phương tiện chở Trương Thành T3 và Nguyễn Ngọc Đ đi thực hiện tội phạm. Hiện đã chuyển Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố L theo quy định pháp luật.
  5. - Thu giữ 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu đen trắng, biển số 60U3-0964 mà Nguyễn Ngọc H1 dùng làm phương tiện chở Trương Công L đi thực hiện hành vi phạm tội, là tài sản do chị Phan Thị Thanh H3 mẹ ruột của H1 đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Khi H1 mượn xe chị H3 đi phạm tội thì chị H3 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã xử lý vật chứng trả lại cho chị H3.

    - 01 đoạn Video clip thu giữ tại tiệm xăm hình của Nguyễn Ngọc Đ khi các bị cáo tập hợp chuẩn bị kiếm, dao là hung khí đi thực hiện hành vi phạm tội và 02 đoạn video thu giữ gắn bên hông tại nhà ông Trần Văn C nơi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

  6. Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Tuấn T6 yêu cầu các bị cáo Trương Công L, Nguyễn Ngọc Đ, Trương Thành T3, Lê Thành T5, Nguyễn Ngọc H1 bồi thường số tiền 1.429.141.000đồng. Bị cáo L bồi thường được một phần với số tiền 60.000.000 đồng, bị cáo Đ bồi thường được một phần với số tiền 50.000.000 đồng, bị cáo H1 bồi thường 20.000.000đ còn lại số tiền 1.148.140.000 đồng, các bị cáo hiện không có khả năng để bồi thường.
  7. Quyết định của cấp sơ thẩm: Tại Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 03/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh đã căn cứ vào điểm d, khoản 4, Điều 134, điểm b, s, khoản 1 Điều 51, điểm d, khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  8. Xử phạt bị cáo Trương Công L (Út Năm) 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2023.

    Căn cứ vào điểm d, khoản 4 Điều 134; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm d, h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2023.

    Căn cứ vào điểm d, khoản 4 Điều 134, điểm b, s, khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trương Thành T3 (T) 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2023.

    Căn cứ vào điểm d, khoản 4 Điều 134, điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 50, điểm d, khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lê Thành T5 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2023.

    Căn cứ vào điểm d, khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 50, khoản 1, 2 Điều 54, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H1 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Về dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự ; Áp dụng Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;

    Buộc các bị cáo có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho người bị hại số tiền 510.141.000đ (Năm trăm mười triệu một trăm bốn mươi mốt ngàn đồng). Cụ thể mỗi bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho người bị hại 102.028.200đ (Một trăm lẻ hai triệu, không trăm hai mươi tám nghìn hai trăm đồng).

    Bị cáo L còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại 2.028.200đ (Hai triệu, không trăm hai mươi tám nghìn, hai trăm đồng).

    Bị cáo Đ còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại 52.028.2000đ (Năm mươi hai triệu không trăm hai mươi tám ngàn đồng).

    Bị cáo T3 còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại 52.028.200đ (Năm mươi hai triệu, không trăm hai mươi tám nghìn, hai trăm đồng).

    Bị cáo H1 còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại 82.028.200đ (T11 mươi hai triệu, không trăm hai mươi tám nghìn, hai trăm đồng đồng).

    Bị cáo T5 còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại 102.028.200đ (Một trăm lẻ hai triệu không trăm hai mươi tám nghìn hai trăm đồng).

  9. Kháng cáo: Ngày 05/6/2024, các bị cáo Nguyễn Ngọc Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
  10. Ngày 17/6/2024, bị hại Nguyễn Tuấn T6 kháng cáo đề nghị tăng mức hình phạt đối với các bị cáo, và đề nghị không cho bị cáo H1 được hưởng án treo, đề nghị tăng mức bồi thường về dân sự.

  11. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa. Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đối chiếu với lời khai của bị cáo tại phiên tòa; Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” đồng thời xử phạt bị cáo Trương Công L 09 năm tù; Nguyễn Ngọc Đ 08 (tám) năm; Trương Thành T3 07 (bảy) năm, Lê Thành T5 07 (bảy) năm và Nguyễn Ngọc H1 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo là đúng người đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo đã gây ra không nhẹ như kháng cáo của bị hại đã nêu; Tuy nhiên, cần xem xét trong vụ án này bị cáo Nguyễn Ngọc H1 tham gia với vai trò giúp sức chở L đi thực hiện phạm tội và đứng đợi chở L tẩu thoát, hành vi của bị cáo là nguy hiểm, giúp sức tích cực cho bị cáo L thực hiện hành vi chém đứt cánh tay của bị hại. Hành vi của bị cáo phạm vào điểm d, khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng; Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo là chưa nghiêm, chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mặc khác theo khoản 2, khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định thì bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do đó, chấp nhận 1 phần kháng cáo của bị hại sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H1 không cho bị cáo được hưởng án treo, chuyển thành hình phạt tù có thời hạn.
  12. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại về việc tăng hình phạt cũng như phần bồi thường đối với các bị cáo Trương Công L, Trương Thành T3, Lê Thành T5 và Nguyễn Ngọc Đ.

  13. Quan điểm của người bào chữa cho bị hại.
  14. Luật sư đồng ý với tội danh, cũng như các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ mà mà cấp sơ thẩm đã áp dụng và xét xử đối với các bị cáo, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo T5 và bị cáo T3 vì khi anh T6 bị chém, T3 và T5 có can ngăn và băng bó, đây cũng là ý kiến của bị hại đối với bị cáo.

    Về bồi thường dân sự như Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là nhẹ đồng thời không phân hóa vai trò của các bị cáo để buộc trách nhiệm của các bị cáo phải thực hiện việc bồi thường, mà cào bằng cho các bị cáo bồi thường là không phù hợp quy định của pháp luật, trong đó bị cáo L là người gây thương tích trực tiếp cho bị hại, bị cáo Đ là người rủ rê các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội nhưng buộc các bị cáo có vai trò thứ yếu bồi thường cho bị hại bằng với hai bị cáo đầu vụ là không tương xưng và không phù hợp quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Đ và kháng cáo của bị hại làm theo đúng trình tự thủ tục nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Ngày 06/5/2024, bị cáo Nguyễn Ngọc Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngày 18/6/2024, bị cáo Đ có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo; Ngày 14/8/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Thông báo số 196/2024/TB-TA về việc rút đơn kháng cáo của bị cáo Đ.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận khoảng 21h 45 phút ngày 27/7/2023, tại nhà anh Nguyễn Văn T12 số D hẻm D đường số C, tổ G, khu phố N, phường S, thành phố L các bị cáo Trương Công L và Nguyễn Ngọc Đ, Nguyễn Ngọc H1 đến nhà anh T12 để tìm T5 đánh, tại đây Trương Công L đã sử dụng 01 cây kiếm Nhật chém thẳng từ trên xuống vào cánh tay trái của T6 làm đứt lìa cánh tay gây thương tích với tỷ lệ 66%. Hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây ra thương tích cho T6 của các bị cáo L, T3, Đ, T5 và H1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của các bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

2.1. Xét kháng cáo của bị hại: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều tham gia với vai trò là người thực hành và giúp sức tích cực, các bị cáo mặc dù không có mâu thuẫn gì với anh T6. Trong đó Trương Công L là người trực tiếp dùng cây kiếm N4 dài khoảng 01 mét là hung khí nguy hiểm vô cớ chém gây thương tích cho anh Nguyễn Tuấn T6 làm mất một cánh tay trái; Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ là người chủ động gọi các đồng phạm khác tham gia, khi đến địa điểm thì xông vào nhà cùng với L dùng dao, kiếm chém qua, chém lại trúng vào lưng Mai Đức T7. Bị cáo Trương Thành T3 tham gia tích cực, chuẩn bị hung khí, cùng nhau đi giải quyết mâu thuẫn, cùng nhau thực hiện phạm tội mặc dù sau khi L chém đứt cánh tay của T6 thì T3 có can ngăn. Bị cáo Lê Thành T5 với vai trò giúp sức tích cực là người chở Trương Thành T3, Nguyễn Ngọc Đ mang theo hung khí kiếm và dao đi thực hiện hành vi phạm tội và chở về nhà tẩu thoát sau khi thực hiện xong hành vi phạm tội. Bị cáo Nguyễn Ngọc H1 tham gia với vai trò giúp sức chở Trương Công L đi thực hiện phạm tội và đứng đợi chở L tẩu thoát, hành vi của các bị cáo là dùng hung khí nguy hiểm thực hiện hành vi phạm tội có tính chất côn đồ. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Trương Công L 09 năm tù; Nguyễn Ngọc Đ 08 (tám) năm; Trương Thành T3 07 (bảy) năm, Lê Thành T5 07 (bảy) năm tù và Nguyễn Ngọc H1 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo là đúng người đúng tội không nhẹ như kháng cáo của bị hại đã nêu.

Bị hại kháng cáo tăng hình phạt đối với các bị cáo nhưng không có căn cứ nên không có cơ sở chấp nhận.

Về vấn đề bồi thường dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Tuấn T6 yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường tổng chi phí là 1.429.141.000đ bao gồm:

  • Chi phí khám chữa bệnh, viện phí tại Bệnh viện Đ1: 4.573.000đ;
  • Chi phí khám, chữa bệnh, đi lại tại Bệnh viện C1: 33.568.000đ;
  • Chi phí thay băng, thuốc mua ngoài không hoá đơn: 5.000.000đ;
  • Chi phí công người nuôi bệnh: 15.000.000₫;
  • Thu nhập thực tế bị mất từ ngày 27/7/2023 đến 27/4/2024 (09 tháng) 300.000đ/ngày: 81.000.000đ;
  • Chi phí phục hồi chức năng cánh tay bị mất theo báo giá của Công ty TNHH D tại TP .: 290.000.000đ;
  • Tiền bù đắp tổn thất tinh thần: 1.000.000.000₫.

Tại phiên toà sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo chấp nhận tất cả các khoản bị hại yêu cầu nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận các khoản chi phí điều trị của bị hại, riêng tiền tổn thất tinh thần chỉ chấp nhận số tiền 81.000.000đ tương đương với 45 tháng lương sơ sở. Tổng cộng số tiền các bị cáo phải bồi thường là: 510.141.000đ (Năm trăm mười triệu một trăm bốn mươi mốt ngàn đồng) là đúng pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường số tiền trên cho bị hại ngang nhau mà không phân hóa vai trò của các bị cáo để xem xét buộc các bị cáo bồi thường là không phù hợp quy định tại Điều 587 Bộ luật Dân sự.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, trong vụ án này bị cáo L là người trực tiếp gây thương tích cho anh T6 do đó bị cáo phải chịu 2/5 trên tổng số tiền phải bồi thường cho bị hại là 204.056.400đ; (Hai trăm lẻ bốn triệu không trăm năm mươi sáu nghìn bốn trăm đồng). Bị cáo đã bồi thường được 100.000.000đ (một trăm triệu) số tiền 104.056.400đ (Một trăm lẻ bốn triệu, không trăm năm mươi sáu nghìn, bốn trăm đồng) buộc bị cáo tiếp tục phải bồi thường.

Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ là người có vai trò thứ hai trong vụ án. Do đó, bị cáo phải chịu 1 phần trách nhiệm trong vụ án là 102.028.200đ; Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ đã bồi thường cho bị hại 50.000.000đ, bị cáo còn phải bồi thường tiếp 52.028.200₫ (Năm mươi hai triệu, không trăm hai mươi tám nghìn, hai trăm đồng).

Các bị cáo T3, T5 và H1 mỗi người phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bị hại 51.014.100đ, trước đó bị cáo T3 đã bồi thường được số tiền 50.000.000đ, số tiền còn lại 1.014.100đ buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho anh T6.

Trong quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo H1 tự nguyện bồi thường cho anh T6 số tiền 102.028.400đ cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Bị cáo Lê Thanh T13 phải bồi thường cho bị hại 51.014.100đ, (Năm mươi mốt triệu không trăm mười bốn nghìn, một trăm đồng).

[4] Về án phí:

- Về án phí hình sự: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Anh T6 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định.

[5] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

[6] Quan điểm của của Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Tuấn T6. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2024/HSST ngày 03/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh về phần hình phạt. Sửa Bản án số 82/2024/HSST ngày 03/6/2024 về phần bồi thường dân sự.
  2. Căn cứ vào điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b, s, khoản 1 Điều 51; điểm d, khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    1.1. Xử phạt bị cáo Trương Công L (Út Năm) 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2023.

    Căn cứ vào điểm d, khoản 4 Điều 134; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm d, h khoản 1 Điều 52; Điều 50, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    1.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2023.

    Căn cứ vào điểm d, khoản 4 Điều 134; điểm b, s, khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    1.3. Xử phạt bị cáo Trương Thành T3 (T) 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2023.

    Căn cứ vào điểm d, khoản 4 Điều 134; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 50, điểm d, khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    1.4. Xử phạt bị cáo Lê Thành T5 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2023.

    Căn cứ vào điểm d, khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; khoản 1, 2 Điều 54; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    1.5. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc H1 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao bị cáo Nguyễn Ngọc H1 cho Ủy ban nhân dân phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

  3. Về bồi thường dân sự dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586; Điều 587 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
  4. 2.1. Buộc bị cáo Trương Công L còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Tuấn T6 số tiền 104.056.400đ (Một trăm lẻ bốn triệu, không trăm năm mươi sáu nghìn, bốn trăm đồng).

    2.2. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Đ còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Tuấn T6 số tiền 52.028.200đ (Năm mươi hai triệu, không trăm hai mươi tám nghìn, hai trăm đồng).

    2.3. Buộc bị cáo Trương Thành T3 còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Tuấn T6 số tiền 1.014.100đ (một triệu, không trăm mười bốn nghìn, một trăm đồng).

    2.4. Bị cáo Lê Thành T5 còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Tuấn T6 số tiền 51.014.100đ (Năm mươi mốt triệu, không trăm mười bốn nghìn một trăm đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án. Lãi suất chậm trả tiền do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự

    Các bị cáo bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”.

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
  6. 3.1.Về án phí hình sự phúc thẩm:

    Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm

    Anh Nguyễn Tuấn T6 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

    3.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bị cáo Trương Công L phải nộp 5.202.820 đ (năm triệu hai trăm lẻ hai nghìn tám trăm hai mươi đồng).

    Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ phải nộp 2.601.400đ (Hai triệu sáu trăm lẻ một nghìn bốn trăm đồng)

    Bị cáo Lê Thành T5 phải nộp 2.552.055₫ (Hai triệu năm trăm năm hai nghìn, không trăm năm mươi năm đồng).

    Bị cáo Trương Thành T3 phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

    Bị cáo Nguyễn Ngọc H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm

  7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (6)
  • - Bị hại (1)
  • - Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh (2);
  • - Công an thành phố Long Khánh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng hồ sơ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án thành phố Long Khánh
  • - Ủy ban nhân dân phường Suối tre, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (5).

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Kiều Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 397/2024/HSPT ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích (phúc thẩm)

  • Số bản án: 397/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: khoảng 21h 45 phút ngày 27/7/2023, tại nhà anh Nguyễn Văn Th số 41/3 hẻm 41 đường số 3, tổ 7, khu phố Núi Tg, phường Suối Tr, thành phố Long Kh các bị cáo Trương Công L và Nguyễn Ngọc Đ, Nguyễn Ngọc H đến nhà anh Th để tìm T đánh, tại đây Trương Công L đã sử dụng 01 cây kiếm Nhật chém thẳng từ trên xuống vào cánh tay trái của Th làm đứt lìa cánh tay gây thương tích với tỷ lệ 66%. Hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây ra thương tích cho Th của các bị cáo L, Tr, Đ, Tiến và Hân là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của các bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger