Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 397/2024/DS-ST

Ngày 24-6-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Quang Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đỗ Thị Thu Hương
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Thủy

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 36/2022/TLST-DS ngày 09 tháng 02 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 335/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Ngọc T – sinh năm 1988; Địa chỉ: A Tỉnh lộ 10, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Trần Ngọc V – sinh năm 1987; địa chỉ liên hệ: 517 (tầng A) L, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy uỷ quyền ngày 15/8/2022) (Có mặt)

Bị đơn: Ông Vũ Khánh Trùng D – sinh năm 1976; Địa chỉ: E Đ, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • 1/ Bà Lê Đặng Thùy T1, sinh năm 1978; Địa chỉ: E Đ, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  • 2/ Bà Phạm Thị Ngọc G, sinh năm 1991; Địa chỉ: A Tỉnh lộ 10, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Ngọc T do bà Nguyễn Thị Thanh H là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 16/10/2021 ông Vũ Khánh Trùng D có mượn của ông Trần Ngọc T số tiền 600.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất theo Giấy mượn tiền được lập ngày 16/10/2021. Ông D cam kết trong vòng 10 ngày sẽ hoàn trả lại số tiền đã mượn của ông T. Mặc dù đã quá thời hạn thanh toán, ông D vẫn chưa thanh toán số tiền đã mượn của ông T. Ông T đã nhiều lần yêu cầu ông D thanh toán lại cho ông T số tiền nêu trên nhưng ông D cố tình tránh né và không chịu thanh toán. Vì vậy ông Trần Ngọc T khởi kiện yêu cầu cá nhân ông Vũ Khánh Trùng D phải trả cho ông T số tiền tạm tính đến ngày 25/4/2024 là 749.753.425 đồng, trong đó, nợ gốc 600.000.000 đồng, lãi chậm trả với mức lãi suất là 10%/năm từ ngày 27/10/2021 đến ngày 25/4/2024 là 149.753.425 đồng, trả một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, ông D còn phải thanh toán tiền lãi chậm thanh toán phát sinh cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trong bản tự khai ngày 01/3/2022, bị đơn ông Vũ Khánh Trùng D trình bày: Ông D xác nhận có vay của ông Trần Ngọc T số tiền 600.000.000 đồng vào ngày 16/10/2021 và có hẹn trả lại trong thời gian gần nhất. Do tình hình gặp khó khăn nên chưa trả tiền cho ông T, ngay khi bán được nhà ông D sẽ thanh toán ngay lập tức cho ông T.

Trong văn bản ý kiến đề ngày 12/9/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc G trình bày: Bà là vợ của ông Trần Ngọc T. Số tiền 600.000.000 đồng ngày 16/10/2021 ông T cho ông D vay là tiền của cá nhân ông T, không liên quan đến bà G, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Đặng Thùy T1 vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa hôm nay,

Nguyên đơn ông Trần Ngọc T do ông Trần Ngọc V là người đại diện theo ủy quyền trình bày: nguyên đơn yêu cầu cá nhân bị đơn ông Vũ Khánh Trùng D thanh toán cho ông Trần Ngọc T số tiền 759.616.000 đồng, trong đó bao gồm tiền nợ gốc 600.000.000 đồng, lãi chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm từ ngày 27/10/2021 tính đến ngày 24/6/2024 (971 ngày) là 159.616.000 đồng, thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra ông D phải chịu lãi phát sinh từ ngày 25/6/2024 cho đến khi thanh toán xong hết nợ cho ông T.

Bị đơn ông Vũ Khánh Trùng D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Đặng Thùy T1 vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc G xin vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:

  • Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp.
  • Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên Tòa.
  • Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì ông Trần Ngọc T có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông Vũ Khánh Trùng D tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp quy định của pháp luật về thẩm quyền.

Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn ông Trần Ngọc T do ông Trần Ngọc V là người đại diện theo ủy quyền có mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Vũ Khánh Trùng D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Đặng Thùy T1 đến Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng ông D và bà T1 vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc G xin vắng mặt. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 207, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán tiền tính đến ngày 24/6/2024 là 759.616.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ giấy Giấy mượn tiền ngày 16/10/2021 và sự thừa nhận của các đương sự thì giữa nguyên đơn và bị đơn đã giao kết hợp đồng vay tài sản và bị đơn còn nợ nguyên đơn tiền nợ gốc 600.000.000 đồng. Theo Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, dù hai bên không thỏa thuận lãi suất nhưng đến hạn mà ông D không thanh toán nên phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm từ ngày 27/10/2021 đến ngày 24/6/2024 là 159.616.000 đồng là có cơ sở.

Về thời hạn thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp nên chấp nhận.

Từ những nhận định trên, căn cứ Điều 357, Điều 463 và Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ còn thiếu tổng cộng là 759.616.000 đồng.

[3] Về ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh: Yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp theo quy định pháp luật, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.

[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

H1 lại cho nguyên đơn ông Trần Ngọc T tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Căn cứ Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
  • - Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
  • - Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Ngọc T:

Bị đơn ông Vũ Khánh Trùng D có trách nhiệm trả cho ông Trần Ngọc T số tiền 759.616.000 (Bảy trăm năm mươi chín triệu, sáu trăm mười sáu ngàn) đồng (trong đó bao gồm tiền nợ gốc 600.000.000 đồng, tiền lãi chậm trả 159.616.000 đồng) theo Giấy mượn tiền ngày 16/10/2021, trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Vũ Khánh Trùng D phải chịu 34.384.640 (Ba mươi bốn triệu, ba trăm tám mươi bốn ngàn, sáu trăm bốn mươi) đồng.

H1 lại cho ông Trần Ngọc T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.000.000 (Mười bốn triệu) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0030847 ngày 10/01/2022 và số tiền 1.191.680 (Một triệu một trăm chín mươi mốt ngàn, sáu trăm tám mươi) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0031911 ngày 12/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKSND QTB;
  • - CCTHADS QTB;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, Hồ sơ (...).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Quang Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 397/2024/DS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 397/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger