Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 3962/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26/8/2024

Vv Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Lợi
  2. Ông Trần Đăng Vạn

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1249/2024/HNST ngày 24 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 5913/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5915/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim H, sinh năm 1976.
  2. Địa chỉ: 4 N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Ông Văn Công Q, sinh năm: 1965.
  4. Địa chỉ: D đường A, khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 15/12/2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Phan Thị Kim H trình bày:

Bà Phan Thị Kim H và ông Văn Công Q chung sống từ năm 2016 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy kết hôn số 126/2016 ngày 03/11/2016. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện.

Sau khi kết hôn cuộc sống chung bình thường cho đến cuối năm 2018 đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do hai bên thường xuyên gây gỗ, không tin tưởng nhau về tình cảm, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Dần dần tình cảm vợ chồng rạn nứt, không có sự đồng cảm chia sẻ và quan tâm nhau. Mặc dù, đôi bên đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả, từ đó vợ chồng sống ly thân ông Q dọn ra ngoài sống tại địa chỉ 46 đường A, khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay, mỗi người có cuộc sống riêng từ năm 2019 cho đến nay nên không còn tình cảm, không thể hàn gắn gia đình được. Bà H xác định không còn tình cảm vì thời gian đôi bên sống ly thân đã lâu nên yêu cầu được ly hôn với ông Q.

Về con chung: bà H khai bà H và ông Q không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: bà H khai không có.

Bị đơn ông Văn Công Q có bản tự khai ngày 26/3/2024 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh và quá trình giải quyết tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, ông Q trình bày:

Xác nhận ông Q và bà H chung sống có đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết hôn là tự nguyện.

Sau khi kết hôn cuộc sống bình thường đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn vợ chồng hay cãi nhau do sống chung với em bà H và con riêng của bà H nên trong sinh hoạt gia đình có mâu thuẫn với nhau nhưng bà H lại bênh con cái anh em của bà H mà không quan tâm đến ông Q, mỗi lần gây gỗ bà H nói sống được thì sống không sống được thì thôi nên từ năm 2019 ông Q dọn ra ngoài sống tại địa chỉ số D đường A, khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay. Trong thời gian từ năm 2019 đến nay ông Q không đến nhà bà H để gặp gỡ vì cho rằng bà H có người khác không hàn gắn được tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông Q được ly hôn với bà H. Tuy nhiên, quá trình giải quyết ngày 12/6/2024 ông Q xác định không còn tình cảm vợ chồng với bà H nhưng không đồng ý ly hôn vì trong thời gian chung sống có đưa cho bà H 05 chỉ vàng 24K do chưa giải quyết được nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: ông Q khai ông Q và bà H không có con chung.

Về tài sản chung: ông Q khai có tài sản chung là 05 chỉ vàng 24K và yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết chia tài sản chung là 05 chỉ vàng.

Về nợ chung: không có.

Bị đơn ông Văn Công Q vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà H. Về con chung, về tài sản chung: và nợ chung: không có. Phía ông Q yêu cầu giải quyết chia tài sản chung trong vụ án này nhưng quá trình giải quyết cho đến phiên tòa hôm nay ông Q không nộp đơn yêu cầu chia tài sản chung nên không có cơ sở xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu chia tài sản chung trong vụ án này, đương sự có quyền khởi kiện chia tài sản chung trong vụ án khác khi có yêu cầu. Án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ lời trình bày của đại diện nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Theo đơn khởi kiện bà Phan Thị Kim H có yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Văn Công Q. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 22/4/2024, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 638/2024/QĐST-HNGĐ chuyển vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 0410/TLST-HNGĐ ngày 01/3/2024 đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh vì theo kết quả xác minh của Công an phường H, thành phố T bị đơn ông Q có đang cư trú tại 46 đường A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Bị đơn ông Văn Công Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Văn Công Q.

[2] Về nội dung khởi kiện:

[2.1] Về hôn nhân:

Phan Thị Kim H và ông Văn Công Q tự nguyện sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy kết hôn số 126/2016 ngày 03/11/2016. Như vậy, hôn nhân giữa đôi bên là hợp pháp.

Về yêu cầu xin được ly hôn của Phan Thị Kim H đối với ông Văn Công Q, Hội đồng xét xử nhận thấy: bà Phan Thị Kim H yêu cầu ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, niềm tin giữa vợ chồng không còn, không có sự chia sẻ, quan tâm. Bà H và ông Q thừa nhận từ năm 2019 cho đến nay bà H và ông Q không còn chung sống với nhau, thời gian sống ly thân đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn và ông Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông Q được ly hôn với bà H nhưng quá trình giải quyết ông Q không đồng ý ly hôn vì bà H chưa giải quyết được tài sản chung là 05 cây vàng 24K mặc dù xác định không còn tình cảm vợ chồng với bà H. Xét, bà H và ông Q không muốn tiếp tục cuộc sống chung, không còn tình cảm, không còn khả năng hàn gắn để tiếp tục cuộc sống chung nếu tiếp tục kéo dài thì mục đích của hôn nhân cũng không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị Kim H.

[2.2]. Về con chung: không có.

[2.3]. Về tài sản chung:

Nguyên đơn bà H xác định không có.

Bị đơn ông Văn Công Q cho rằng tài sản chung là 05 cây vàng 24K. Quá trình giải quyết Tòa án đã hướng dẫn và cho ông Q thời hạn nộp đơn phản tố yêu cầu chia tài sản chung. Tuy nhiên, cho đến nay ông Q vẫn không nộp đơn yêu cầu phản tố chia tài sản chung theo quy định nên không có cơ sở để xem xét.

Ông Văn Công Q có quyền khởi kiện một vụ án khác theo quy định pháp luật khi có yêu cầu.

Về nợ chung: xác định không có.

Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.

[3]. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà Phan Thị Kim H phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân:
  2. Cho ly hôn giữa bà Phan Thị Kim H và ông Văn Công Q.

    Giấy chứng nhận kết hôn số 126/2016 ngày 03/11/2026 do Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Phan Thị Kim H và ông Văn Công Q không còn giá trị pháp lý.

  3. Về nuôi con chung: không có con chung.
  4. Về chia tài sản:
  5. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Ông Văn Công Q có quyền khởi kiện một vụ án khác theo qui định của pháp luật khi có yêu cầu.

    Về nợ chung: không có.

    Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà Phan Thị Kim H phải nộp 300.000 đồng, được cấn trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà Phan Thị Kim H đã nộp tại biên lai thu tiền số 0018725 ngày 01/3/2024 của Cơ quan thi hành án dân sự quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phan Thị Kim H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS quận Bình Thạnh;
  • - UBND phường 13,Q. Bình Thạnh, TPHCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3962/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 3962/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger