Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 396/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29/5/2024

V/V: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Đoan Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đàm Thu Ánh;
  2. Bà Nguyễn Lê Thu.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Quyên – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Võ Thùy Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 183/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thanh Vân; địa chỉ: Số 197/35 đường Nguyễn Thị Nhỏ, Phường 9, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh;
  2. Bà Vân có đơn xin xét xử vắng mặt.

  3. Bị đơn: Ông Vũ Ngọc Xuyên; địa chỉ: Số 351/128 đường Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh;
  4. Ông Xuyên có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh Vân trình bày:

Bà Vân và ông Vũ Ngọc Xuyên là vợ chồng hợp pháp, tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 43 do Ủy ban nhân dân Phường 9, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/7/1992.

Thời gian đầu kết hôn hai bên chung sống hạnh phúc, sau đó bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn và bất đồng trong cuộc sống từ khoảng năm 2012. Ông Xuyên tính tình nóng nảy, gia trưởng, không quan tâm vợ con. Trong thời gian khoảng từ năm 2011 đến năm 2013 hai bên mâu thuẫn, căng thẳng đỉnh điểm, ông Xuyên có 2 lần khóa các cửa nhà, cầm dao rượt theo và có ý định tấn công bà Vân. Bà Vân có gọi điện nhờ Công an, dân phòng can thiệp. Phía công an Phường có cử 5 người xuống hỗ trợ, tuy nhiên sau đó chỉ động viên hai bên mà không lập thành biên bản.

Dù hai bên đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được. Bà Vân đã nộp đơn xin ly hôn đơn phương với ông Xuyên. Sau khi Tòa án đã tiến hành hòa giải 2 lần, Thẩm phán đã khuyên nhủ, động viên Bà Vân rút đơn để hàn gắn gia đình, nếu sau này hàn gắn không thành thì mới được giải quyết ly hôn. Do đó bà Vân đã rút đơn để hai bên đoàn tụ.

Tuy nhiên, sau đó cuộc sống gia đình vẫn ngột ngạt, không còn hạnh phúc, hai bên đã tự sống ly thân hơn 08 năm nay. Kể từ năm 2015, bà Vân đã dọn về nhà mẹ ruột ở quận Tân Bình, kể từ đó hai bên mỗi người một cuộc sống riêng.

Nay cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mâu thuẫn giữa hai bên đã quá trầm trọng không còn hàn gắn được, bà Vân làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho Bà Vân được ly hôn với ông Xuyên để hai bên sớm ổn định cuộc sống và rõ ràng về mặt pháp lý.

  • Về con chung: Có 02 con chung là Vũ Ngọc Long (Nam, sinh ngày 20/9/1993) và Vũ Nhật Quỳnh (Nữ, sinh ngày 08/3/2004). Các con chung đều đã thành niên, đã trưởng thành, bà Vân không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 08/5/2024 bà Phạm Thị Thanh Vân có nộp Đơn xin xét xử vắng mặt tại các phiên tòa xét xử vụ án. Bà Vân giữ nguyên yêu cầu như trong Đơn khởi kiện và xin bảo lưu ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ kiện tại Tòa án.

* Tại Bản tự khai, Biên bản hòa giải tại Tòa án, bị đơn ông Vũ Ngọc Xuyên trình bày:

Ông Xuyên và bà Phạm Thị Thanh Vân là vợ chồng hợp pháp, hai bên tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 43 do Ủy ban nhân dân Phường 9, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/7/1992.

Hai bên quen biết nhau khoảng 01 năm thì tiến đến hôn nhân. Khoảng năm 2015 Bà Vân đòi lập công ty để kinh doanh, giữa hai vợ chồng bất đồng ý kiến nên xảy ra mâu thuẫn, Bà Vân tự lập công ty, nhưng sau đó kinh doanh không hiệu quả, gây ra nợ nần. Bà Vân nộp Đơn ly hôn ra Tòa án khoảng năm 2015, nhưng sau đó do ông Xuyên đồng ý bán tài sản để trả nợ cho bà Vân, nên bà Vân đã rút đơn ly hôn.

Từ năm 2015 đến nay, hai bên đã sống riêng, mỗi người tự sống cuộc sống riêng. Con trai đã trưởng thành có gia đình riêng, con gái từ nhỏ đã sống cùng cha, bà Vân không chăm lo cho con chung. Giữa hai bên không còn trao đổi, chăm sóc, thương yêu lẫn nhau. Nhưng do ông Xuyên là người theo đạo Công giáo, không được phép ly hôn. Đồng thời do con gái nhỏ của hai người còn nhỏ, chưa lập gia đình, nếu cha mẹ ly hôn thì sẽ ảnh hưởng đến danh dự, thể diện cho gia đình, sẽ khó khăn và mất thể diện cho gia đình. Do đó ông Xuyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho hai bên đoàn tụ. Hoặc nếu không sống cùng nhau được nữa thì hai bên cứ sống ly thân, để giữ gìn danh dự, thể diện cho gia đình, tránh việc cuộc sống riêng của mình mà ảnh hưởng đến gia đình, con cái.

  • Về con chung: Có 02 con chung là Vũ Ngọc Long (Nam, sinh ngày 20/9/1993) và Vũ Nhật Quỳnh (Nữ, sinh ngày 08/3/2004). Các con chung đều đã thành niên, ông Xuyên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng thời vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn ông Vũ Ngọc Xuyên trình bày:

  • Về quan hệ hôn nhân: Ông xác định ông không còn tình cảm với vợ nhưng ông không đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết cho hai bên tiếp tục sống ly thân như hiện nay, để giữ gìn danh dự, thể diện cho gia đình, tránh việc cuộc sống riêng của mình mà ảnh hưởng đến gia đình, con cái.
  • Về con chung: Có 02 con chung là Vũ Ngọc Long (Nam, sinh ngày 20/9/1993) và Vũ Nhật Quỳnh (Nữ, sinh ngày 08/3/2004). Các con chung đều đã thành niên, ông Xuyên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 có ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:

  • Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng quy định pháp luật, tuy nhiên chưa đảm bảo đúng thời hạn tống đạt Thông báo thụ lý theo quy định tại Khoản 1 Điều 196 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào các Biên bản lời khai đã thể hiện, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

  • Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
  • Bà Phạm Thị Thanh Vân và ông Vũ Ngọc Xuyên chung sống trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp. Bà Vân xin ly hôn với ông Xuyên, bị đơn có nơi cư trú tại Quận 11 nên Tòa án nhân dân Quận 11 thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định pháp luật tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

  • Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Ngày 08/5/2024 nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh Vân có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy yêu cầu vắng mặt của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về yêu cầu của các đương sự:

  • Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Thanh Vân:
  • Bà Phạm Thị Thanh Vân và ông Vũ Ngọc Xuyên tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường 9, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 43 đăng ký ngày 17/7/1992. Quan hệ hôn nhân giữa Bà Vân và ông Xuyên là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

    Xét thấy: Mâu thuẫn giữa bà Vân và ông Xuyên đã phát sinh chủ yếu về mặt tình cảm, nguyên nhân do vợ chồng khác biệt về lối sống và quan điểm sống, vợ chồng đã cố hàn gắn nhưng không được. Bà Vân đã nộp đơn xin ly hôn đơn phương với ông Xuyên nhưng sau đó bà đã đồng ý thỏa thuận cùng ông Xuyên trở về đoàn tụ nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng không còn khả năng hàn gắn. Từ năm 2015 bà Vân đã dọn về nhà mẹ ruột sinh sống, vợ chồng đã ly thân được 08 năm, không còn liên hệ với nhau, không liên quan về kinh tế, và cũng không có biện pháp gì để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ gia đình.

    Ông Xuyên cũng xác nhận giữa hai bên không còn trao đổi, chăm sóc, thương yêu lẫn nhau. Ông cũng không có biện pháp gì để vợ chồng hòa giải với nhau. Ông không đồng ý ly hôn vì muốn giữ gìn danh dự, thể diện cho gia đình, không muốn cuộc sống riêng của cả hai ảnh hưởng đến gia đình, con cái, không phải vì còn yêu thương vợ mà mong muốn được đoàn tụ để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Do đó, yêu cầu của ông Xuyên về việc cho hai bên đoàn tụ hoặc tiếp tục ly thân như hiện nay mà không cần ly hôn là không có cơ sở để chấp nhận.

    Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

    Hội đồng xét xử căn cứ vào những nhận định nêu trên và căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã quy định: “Khi tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”. Vì vậy, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh Vân được ly hôn với ông Vũ Ngọc Xuyên.

  • Về con chung: Có 02 con chung là Vũ Ngọc Long (Nam, sinh ngày 20/9/1993) và Vũ Nhật Quỳnh (Nữ, sinh ngày 08/3/2004). Các con chung đều đã thành niên, hai bên không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh Vân phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; 228; 271; 273; 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Căn cứ Luật thi hành án Dân sự;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh Vân.
  2. Bà Phạm Thị Thanh Vân được ly hôn với ông Vũ Ngọc Xuyên.

  3. Về con chung: Có 02 con chung là Vũ Ngọc Long (Nam, sinh ngày 20/9/1993) và Vũ Nhật Quỳnh (Nữ, sinh ngày 08/3/2004). Các con chung đều đã thành niên. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  5. Về nợ chung: Không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh Vân phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) căn cứ trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Vân đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0022720 ngày 11/3/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Vân đã nộp đủ án phí.
  7. Về quyền kháng cáo: Ông Vũ Ngọc Xuyên được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Phạm Thị Thanh Vân có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKSND Quận 11;
  • - Chi cục THADS Quận 11;
  • - UBND P. 9, Q. Tân Bình, T.Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Đoan Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 396/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 396/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger