Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 396/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 28/12/2023

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huyên.

Bà Vũ Thị Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 455/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 445/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 317/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023, giữa:

  1. Nguyên đơn: Anh Vũ Văn D, sinh ngày 22/02/1988,

    Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Q, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Malaysia.

  2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh ngày 24/10/1992,

    Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã L, huyện G, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Nhật Bản.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người được anh D ủy quyền về việc giao nhận văn bản: Ông Vũ Văn V, sinh năm 1966.

    Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương.

(Các đương sự vắng mặt, có đơn và có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn anh Vũ Văn D trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương ngày 04/4/2012. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do quan điểm và lối sống trái ngược nhau. Tháng 7/2014 anh đi lao động tại Nhật Bản vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng hơn do anh phải trả nợ chưa có tiền gửi về cho chị nên chị không liên lạc với anh. Tháng 7/2015 chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, để lại con cho bố mẹ anh chăm sóc. Cuối năm 2015 chị cũng sang Nhật Bản lao động, vợ chồng có gặp nhau nhưng không tìm được tiếng nói chung nên không có sự quan tâm chia sẻ. Năm 2020 anh về nước nhưng tình trạng vợ chồng không cải thiện được, năm 2022 anh làm đơn xin ly hôn, tuy nhiên được gia đình khuyên bảo hòa giải nên đã rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ. Từ khi rút đơn về vợ chồng vẫn không liên lạc, không quan tâm đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Bảo N, sinh ngày 29/05/2013, hiện con đang ở với ông nội là Vũ Văn V. Anh đề nghị được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi) và tự nguyện không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Trong thời gian không có mặt tại Việt Nam, anh ủy quyền cho ông Vũ Văn V thay anh chăm sóc con Vũ Bảo N cho đến khi anh về nước.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định vợ chồng không có tài sản chung cũng như không có nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh D hiện đang lao động tại Malaysia, anh ủy quyền cho bố đẻ là ông Vũ Văn V thay anh giao nhận tài liệu tại Tòa án. Sau khi nhận được các tài liệu, ông V đã thông báo cho anh biết, anh D vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Do anh D không cung cấp được địa chỉ của chị L nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình chị L. Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị S (là bố, mẹ đẻ chị L) trình bày: Ông, bà không biết địa chỉ cụ thể của chị L ở nước ngoài nên không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên chị L vẫn liên lạc với gia đình qua điện thoại. Ông, bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho chị L biết, chị L có quan điểm không đồng ý ly hôn mà chờ khi nào chị về nước thì mới giải quyết. Trường hợp Tòa án vẫn giải quyết ly hôn thì chị có nguyện vọng được nuôi con Vũ Bảo N cho đến khi con tròn 18 tuổi. Tài sản chung,

nợ chung không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra ông T, bà S còn trình bày quá trình chung sống vợ chồng, anh D đi lao động tại Nhật Bản, chị L ở nhà có mâu thuẫn với mẹ chồng nên đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở và ông, bà đã lo cho chị L đi lao động tại Nhật Bản. Tại Nhật Bản vợ chồng tìm gặp, hàn gắn và chung sống với nhau nhưng cũng chỉ được một thời gian ngắn thì anh D có tình cảm với người khác nên vợ chồng lại xa cách mỗi người một nơi.

Tòa án xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh D, chị L sinh sống thể hiện: Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại gia đình nhà chồng được một thời gian thì chị L về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng chủ yếu sống xa cách mỗi người một nơi. Hiện anh D và chị L vẫn chưa về nước. Nay anh D có đơn xin ly hôn, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ông Vũ Văn V nhất trí thay anh D chăm sóc cháu Vũ Bảo N cho đến khi anh D về nước và không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi cháu Vũ Bảo N.

Con chung của anh D và chị L là cháu Vũ Bảo N có nguyện vọng được ở với anh D và ông V.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vũ Văn D ly hôn chị Nguyễn Thị L. Về con chung: Giao con chung Vũ Bảo N cho anh D chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi; chấp nhận sự tự nguyện của anh D không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm giao con chung Vũ Bảo N cho ông Vũ Văn V chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh D không có mặt tại Việt Nam. Anh D phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn anh Vũ Văn D có nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh ở thôn Q, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương, hiện anh D đang lao động tại Malaysia; bị đơn chị Nguyễn Thị L có nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh ở thôn T, xã L, huyện G, tỉnh Hải Dương, hiện chị L đang lao động tại Nhật Bản. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh D không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị L. Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình chị L cung cấp địa chỉ nhưng gia đình không cung cấp được. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà S là mẹ đẻ chị L để thông báo về việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa anh D và chị L đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Bà S vẫn liên lạc với chị L và đã thông báo việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa anh D và chị L. Tại phiên tòa anh D, ông V vắng mặt và có đơn, có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt. Chị L vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Văn D và chị Nguyễn Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương ngày 04/4/2012 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống trái ngược nhau. Từ khi anh D đi lao động tại Nhật Bản năm 2014 vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng hơn. Năm 2015 chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, sau đó chị cũng sang lao động tại Nhật Bản, vợ chồng có tìm gặp và chung sống cùng nhau nhưng cũng chỉ được một thời gian ngắn thì vợ chồng nghi ngờ lẫn nhau nên mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Năm 2022 anh làm đơn xin ly hôn nhưng được gia đình khuyên bảo hòa giải nên đã rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ. Từ khi rút đơn về vợ chồng vẫn không liên lạc, không quan tâm đến nhau. Anh D xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị L. Thông qua gia đình chị L có quan điểm không nhất trí ly hôn. Tuy nhiên, chị L không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng, từ khi anh D rút đơn về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng không được cải thiện. Chị L không có nguyện vọng đoàn tụ mà đề nghị khi nào chị về nước thì sẽ giải quyết ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, thời gian vợ chồng sống ly thân từ lâu, mâu thuẫn giữa anh D và chị L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh D.

[2.2] Về quan hệ con chung: Anh Vũ Văn D và chị Nguyễn Thị L có 01 con chung là Vũ Bảo N, sinh ngày 29/5/2013, hiện con đang ở với ông Vũ Văn V. Anh D và chị L cùng có nguyện vọng được nuôi con cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi), anh D tự nguyện không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Con chung Vũ Bảo N có nguyện vọng được ở với anh D và ông V. Anh D ủy quyền cho ông Vũ Văn V chăm sóc con chung cho đến khi anh về nước. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù chị L có nguyện vọng được nuôi con nhưng từ nhỏ

cho đến nay cháu Vũ Bảo N đang ở với ông bà nội, cháu có cuộc sống và môi trường học ổn định, hơn nữa hiện tại chị L cũng không có mặt ở Việt Nam. Để đảm bảo sự ổn định của cháu Vũ Bảo N và phù hợp với thực tế cần giao con chung cho anh D chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Tạm giao cháu Vũ Bảo N cho ông Vũ Văn V nuôi dưỡng trong thời gian anh D không có mặt tại Việt Nam. Chấp nhận sự tự nguyện của anh D không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh D, chị L cùng xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3]. Về án phí: Anh Vũ Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51; 56; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Văn D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vũ Văn D ly hôn chị Nguyễn Thị L.

2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho anh Vũ Văn D được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Vũ Bảo N, sinh ngày 29/5/2013 cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh D tạm thời không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm giao con chung Vũ Bảo N cho ông Vũ Văn V nuôi dưỡng trong thời gian anh D không có mặt tại Việt Nam.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Vũ Văn D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) và được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0001225 ngày 19/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh D đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Anh Vũ Văn D và chị Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Ông Vũ Văn V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Thống Nhất, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa GĐ&NCTN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 396/2023/HNGĐ-ST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 396/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Vũ Văn D xin ly hôn chị Nguyễn Thị L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger