|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 396/2024/HNGĐ-ST
Ngày 18-9-2024
V/v tranh chấp xin ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Đoan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Minh
Ông Huỳnh Văn Tới
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa – Là Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 419/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 365/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng T, sinh năm: 1983 (xin vắng mặt).
- Địa chỉ: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- - Bị đơn: Anh Trịnh Minh C, sinh năm: 1990 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 27/5/2024, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Hồng T trình bày: Chị và anh C tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau vào năm 2016. Quá trình chung sống, phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường hay cự cãi. Nay chị xác định không còn tình cảm nên xin ly hôn với anh C.
Về con chung: Có 01 người con chung tên Trịnh Minh K, sinh năm 2012, hiện con chung đang sống cùng anh C. Khi ly hôn, con muốn sống với ai người đó nuôi, không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Trịnh Minh C đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử nhưng anh C vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Hồng T có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, anh Trịnh Minh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh C. Chị T yêu cầu được ly hôn nên xác định là tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hồng T và anh Trịnh Minh C xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Quá trình giải quyết vụ án, chị T cho rằng giữa hai vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn được, không còn tình cảm yêu thương nên yêu cầu ly hôn với anh C. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng để anh C tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của chị T. Điều đó chứng tỏ anh C đã không quan tâm đến việc hòa giải hàn gắn đoàn tụ cũng như bỏ mặc tình trạng hôn nhân của mình. Xét thấy, hôn nhân của chị T và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T về việc xin ly hôn với anh C.
[3] Về con chung: Chị T xác định có 01 người con chung tên Trịnh Minh K, sinh năm 2012, hiện con chung đang sống cùng anh C. Khi ly hôn, chị T có ý kiến cháu K ở với ai người đó nuôi, thấy rằng cháu K đang sống ổn định với anh C, việc giao con chung cho anh C nuôi sẽ không làm xáo trộn cuộc sống của cháu. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung tên Trịnh Minh K, sinh năm 2012 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Do không ghi nhận được ý kiến của bị đơn anh C, nếu sau này có phát sinh tranh chấp anh C có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
[5] Về nợ chung: Chị T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Hồng T về việc xin ly hôn với anh Trịnh Minh C.
Về con chung: Giao con chung tên Trịnh Minh K, sinh năm 2012 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi. Cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên không xem xét. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trường hợp lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người không trực tiếp nuôi con.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng. Ngày 05/7/2024 chị T đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0005263 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời nay được chuyển thu, chị T đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Chị T, anh C vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Đoan |
Bản án số 396/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 396/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
