Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 396/2024/DS-ST

Ngày: 17/9/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Xuân Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đào Ngọc Bích
  2. Ông Phạm Hồng Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức – Là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 406/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173 /2024/QĐXXST-DS ngày 07/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 257/2024/QÐST-DS ngày 29/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N

Địa chỉ trụ sở chính: Số B đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Văn C.

Địa chỉ: 1 đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn:

  1. Ông Trương Xuân M, sinh năm 1951 (vắng mặt).
  2. Bà Trương Xuân Hà M1, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ thường trú: Số C đường Đ, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Cùng địa chỉ tạm trú: Số B đường L, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

  • - Ngày 16/11/2022, Ngân hàng N – Chi nhánh L – Phòng G (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và ông Trương Xuân M có ký kết Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201072. Theo hợp đồng, Ngân hàng cho ông M vay 1.100.000.000 đồng để mua đất ở, thời hạn vay là 12 tháng. Lãi suất vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng là 11,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả là 10,0%/năm. Lãi suất sẽ được điều chỉnh định kỳ vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10 trong năm, lãi suất điều chỉnh được xác định bằng lãi suất tiết kiệm VNĐ 12 tháng trả lãi sau, áp dụng tại A Chi nhánh L vào thời điểm hiện hành cộng biên độ điều chỉnh là 5,1%/năm, nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay niêm yết tại thời điểm điều chỉnh. Ngoài ra, trong trường hợp lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 tăng thì lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh tăng tương ứng.
  • Tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay nêu trên là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 657, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã N, huyện B, tỉnh Long An, thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của bà Trương Xuân Hà M1 (con ruột của ông Trương Xuân M), theo hợp đồng thế chấp số 1603-LCP-202200920 ngày 16/11/2022.
  • Sau khi ký kết các hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân tiền vay cho ông Trương Xuân M theo đúng thỏa thuận. Tuy nhiên, ông M không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Kể từ ngày vay đến ngày 02/5/2024, ông Trương Xuân M chỉ thanh toán cho Ngân hàng được 5.000.000 đồng tiền gốc. Ngày 16/11/2023, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ của ông Trương Xuân M sang nợ quá hạn.
  • - Ngày 25/11/2022, Ngân hàng N – Chi nhánh L – Phòng G và bà Trương Xuân Hà M1 có ký kết Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201113. Theo hợp đồng, Ngân hàng cho bà M1 vay 1.900.000.000 đồng để mua đất ở, thời hạn vay là 12 tháng. Lãi suất vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng là 11,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả là 10,0%/năm. Lãi suất sẽ được điều chỉnh định kỳ vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10 trong năm, lãi suất điều chỉnh được xác định bằng lãi suất tiết kiệm VNĐ 12 tháng trả lãi sau, áp dụng tại A Chi nhánh L vào thời điểm hiện hành cộng với biên độ điều chỉnh là 5,1%/năm, nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay niêm yết tại thời điểm điều chỉnh. Ngoài ra, trong trường hợp lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 tăng thì lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh tăng tương ứng.
  • Tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay này là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 657, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã N, huyện B, tỉnh Long An, thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của bà Trương Xuân Hà M1, theo hợp đồng thế chấp số 1603-LCP-202200919 ngày 16/11/2022.

Sau khi ký kết các hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân tiền vay cho bà Trương Xuân H Mi theo đúng thỏa thuận. Tuy nhiên, kể từ ngày vay đến ngày 02/5/2024, bà Trương Xuân Hà M1 chỉ thanh toán cho Ngân hàng được 5.000.000 đồng tiền gốc. Ngày 27/11/2023, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ của bà M1 sang nợ quá hạn.

Do ông Trương Xuân M và bà Trương Xuân Hà M1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng nên Ngân hàng đã khởi kiện ông Trương Xuân M và bà Trương Xuân Hà M1 đến Tòa án để thu hồi nợ.

Ngân hàng yêu cầu ông Trương Xuân M phải thanh toán cho Ngân hàng khoản nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 17/9/2024 là 1.341.912.678 đồng gồm: Tiền gốc 1.095.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 118.938.356 đồng, tiền lãi quá hạn 120.840.103 đồng, tiền lãi chậm trả 7.134.219 đồng. Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, ông Trương Xuân M còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201072 ngày 16/11/2022.

Ngân hàng yêu cầu bà Trương Xuân Hà M1 phải thanh toán cho Ngân hàng khoản nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 17/9/2024 là 2.321.904.922 đồng gồm: Tiền gốc 1.895.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 215.246.575 đồng, tiền lãi quá hạn 200.311.336 đồng, tiền lãi chậm trả 11.347.011 đồng. Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bà Trương Xuân Hà M1 còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201113 ngày 25/11/2022.

Trường hợp ông Trương Xuân M và bà Trương Xuân Hà M1 không trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 657, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã N, huyện B, tỉnh Long An (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CM508811, số vào sổ cấp GCN: CS09399 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 21/3/2018), theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202200920 ngày 16/11/2022 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202200919 ngày 16/11/2022, để thu hồi nợ.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trương Xuân M và bà Trương Xuân Hà M1 đều vắng mặt nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm hiện nay, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là vi phạm Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trương Xuân M và bà Trương Xuân Hà M1 trả nợ vay, đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét thấy, trong các hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng với ông Trương Xuân M và bà Trương Xuân Hà M1, các bên có thỏa thuận mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng được giải quyết tại Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền tại nơi Ngân hàng N – Chi nhánh L đóng trụ sở. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trương Xuân M và bà Trương Xuân Hà M1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án nhưng ông M và bà M1 không cung cấp chứng cứ, không đến Tòa án làm bản khai để phản bác yêu cầu của nguyên đơn, từ bỏ quyền lợi hợp pháp của mình. Do đó, Tòa án căn cứ vào các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án. Mặt khác, ông M, bà M1 vắng mặt tại phiên hòa giải và người đại diện của nguyên đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án không tiến hành hoà giải được vụ án. Tại phiên tòa ngày hôm nay, ông M, bà M1 vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét Giấy ủy quyền của bà Nguyễn Thị Đ (Giám đốc Ngân hàng N – Chi nhánh L) ủy quyền cho ông Phạm Văn C tham gia tố tụng giải quyết vụ án là hợp lệ, được Tòa án chấp nhận.

[2] Về yêu cầu của nguyên đơn: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy, giao dịch vay tài sản giữa Ngân

hàng với ông Trương Xuân M và bà Trương Xuân Hà M1 là loại vay có thời hạn và có biện pháp bảo đảm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông M, bà M1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng được quyền khởi kiện đối với ông M, bà M1 để thu hồi nợ.

[2.1] Về yêu cầu đòi nợ vay của Ngân hàng với ông Trương Xuân M:

[2.1.1] Xét yêu cầu về khoản nợ gốc: Căn cứ vào Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 16/11/2022 và Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 13/01/2023 (do Ngân hàng cung cấp), Hội đồng xét xử có cơ sở để khẳng định Ngân hàng có cho ông Trương Xuân M vay 1.100.000.000 đồng. Theo các bản khai do Ngân hàng cung cấp tính từ ngày vay đến ngày 02/5/2024, ông Trương Xuân M chỉ thanh toán cho Ngân hàng được 5.000.000 đồng tiền nợ gốc. Tại thời điểm xét xử, ông Trương Xuân M còn khoản nợ gốc với Ngân hàng là 1.095.000.000 đồng cho Ngân hàng. Do đó, Hội đồng xét xử cần buộc ông Trương Xuân M phải trả cho Ngân hàng khoản tiền nợ gốc còn lại là 1.095.000.000 đồng.

[2.1.2] Xét yêu cầu về khoản nợ lãi: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201072 ngày 16/11/2022 giữa Ngân hàng và ông Trương Xuân M thì lãi suất vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng là 11,5%/năm; lãi suất sẽ được điều chỉnh định kỳ theo mức lãi suất tiết kiệm VNĐ 12 tháng trả lãi sau áp dụng tại A Chi nhánh L vào thời điểm hiện hành cộng với biên độ điều chỉnh là 5,1%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả là 10,0%/năm.

Xét thấy, mức lãi suất mà các bên thỏa thuận là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Theo lời khai và bảng kê do Ngân hàng cung cấp, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 17/9/2024, ông M còn nợ Ngân hàng các khoản tiền lãi bao gồm: Tiền lãi trong hạn 118.938.356 đồng, tiền lãi quá hạn 120.840.103 đồng, tiền lãi chậm trả 7.134.219 đồng.

Xét thời gian tính lãi và cách tính lãi mà Ngân hàng áp dụng đối với ông Trương Xuân M không trái với hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết và không trái với Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về khoản nợ lãi, buộc ông Trương Xuân M phải trả cho Ngân hàng các khoản nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/9/2024) là: Tiền lãi trong hạn 118.938.356 đồng, tiền lãi quá hạn 120.840.103 đồng, tiền lãi chậm trả 7.134.219 đồng.

[2.2] Về yêu cầu đòi nợ vay của Ngân hàng với bà Trương Xuân Hà M1:

[2.2.1] Xét yêu cầu về khoản nợ gốc: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201113 ngày 25/11/2022 và Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay ngày 25/11/2022 (do Ngân hàng cung cấp), Hội đồng xét xử có cơ sở để khẳng định Ngân hàng có cho bà Trương Xuân H Mi vay 1.900.000.000 đồng. Theo các bản khai do Ngân hàng cung cấp tính từ ngày vay đến ngày 02/5/2024, bà Trương Xuân Hà M1 chỉ thanh toán cho Ngân hàng được 5.000.000 đồng tiền nợ gốc. Tại thời điểm xét xử, Bà Trương Xuân Hà M1 còn khoản nợ gốc với Ngân hàng là 1.895.000.000 đồng cho Ngân hàng. Do đó, Hội đồng xét xử cần buộc bà Trương Xuân Hà M1 phải trả cho Ngân hàng khoản tiền nợ gốc còn lại là 1.895.000.000 đồng.

[2.2.2] Xét yêu cầu về khoản nợ lãi: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201113 ngày 25/11/2022 giữa Ngân hàng và bà Trương Xuân Hà M1 thì lãi suất vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng là 11,5%/năm; lãi suất sẽ được điều chỉnh định kỳ theo mức lãi suất tiết kiệm VNĐ 12 tháng trả lãi sau áp dụng tại A Chi nhánh L vào thời điểm hiện hành cộng với biên độ điều chỉnh là 5,1%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả là 10,0%/năm.

Xét thấy, mức lãi suất mà các bên thỏa thuận là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Theo lời khai và bảng kê do Ngân hàng cung cấp, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 17/9/2024, bà M1 còn nợ Ngân hàng các khoản tiền lãi bao gồm: Tiền lãi trong hạn 215.246.575 đồng, tiền lãi quá hạn 200.311.336 đồng, tiền lãi chậm trả 11.347.011 đồng.

Xét thời gian tính lãi và cách tính lãi mà Ngân hàng áp dụng đối với bà Trương Xuân Hà M1 không trái với hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết và không trái với Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về các khoản nợ lãi, buộc bà Trương Xuân Hà M1 phải trả cho Ngân hàng các khoản nợ lãi tính đến ngày 17/9/2024 là: Tiền lãi trong hạn 215.246.575 đồng, tiền lãi quá hạn 200.311.336 đồng, tiền lãi chậm trả 11.347.011 đồng.

[2.3] Về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp: Xét thấy, để đảm bảo cho khoản vay của ông Trương Xuân M với Ngân hàng và khoản vay của bà Trương Xuân H Mi với Ngân hàng thì bà Trương Xuân Hà M1 đã thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (do bà M1 là chủ sử dụng, chủ sở hữu) tại thửa đất số 657, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã N, huyện B, tỉnh Long An (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản

khác gắn liền với đất số phát hành CM508811, số vào sổ cấp GCN: CS09399 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 21/3/2018), theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202200920 ngày 16/11/2022 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202200919 ngày 16/11/2022. Theo biên bản về việc xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận 10 cho thấy: Thửa đất số 657, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã N, huyện B, tỉnh Long An là thửa đất trống (không có nhà ở hoặc công trình xây dựng gắn liền với đất).

Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202200920 ngày 16/11/2022 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202200919 ngày 16/11/2022 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật. Hợp đồng được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Do đó, các hợp đồng thế chấp này đã phát sinh hiệu lực pháp luật và có giá trị ràng buộc đối với các bên. Xét thấy, ông Trương Xuân M và bà Trương Xuân Hà M1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 657, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã N, huyện B, tỉnh Long An để thu hồi nợ.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Bị đơn bà Trương Xuân Hà M1 phải chịu án phí trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Xét thấy, ông Trương Xuân M, sinh năm 1951 (là người cao tuổi) thuộc trường hợp được miễn tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 326). Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Nghị quyết 326 để được miễn tiền án phí thì người được miễn tiền án phí phải có đơn đề nghị nộp cho Tòa án có thẩm quyền kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh thuộc trường hợp được miễn án phí. Xét thấy, ông Trương Xuân M vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án và không có đơn đề nghị miễn tiền án phí. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trương Xuân M theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326. Do đó, căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326, ông Trương Xuân M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  • - Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ nên Ngân hàng N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về chi phí tố tụng: Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn

phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Do đó, bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn 15.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà nguyên đơn đã nộp theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 167, Điều 170 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm,

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
    1. Buộc ông Trương Xuân M phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền 1.341.912.678 đồng (một tỷ ba trăm bốn mươi mốt triệu chín trăm mười hai nghìn sáu trăm bảy mươi tám đồng) gồm: Tiền gốc 1.095.000.000 đồng (một tỷ không trăm chín mươi lăm triệu đồng); tiền lãi trong hạn 118.938.356 đồng (một trăm mười tám triệu chín trăm ba mươi tám nghìn ba trăm năm mươi sáu đồng); tiền lãi quá hạn 120.840.103 đồng (một trăm hai mươi triệu tám trăm bốn mươi nghìn một trăm linh ba đồng); tiền lãi chậm trả 7.134.219 đồng (bảy triệu một trăm ba mươi tư nghìn hai trăm mười chín đồng).
    2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201072 ngày 16/11/2022.
    1. Buộc bà Trương Xuân Hà M1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền 2.321.904.922 đồng (hai tỷ ba trăm hai mươi mốt triệu chín trăm linh bốn nghìn chín trăm hai mươi hai đồng) gồm: Tiền gốc 1.895.000.000 đồng (một tỷ tám trăm chín mươi lăm triệu đồng); tiền lãi trong hạn 215.246.575 đồng (hai trăm mười lăm triệu hai trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm bảy mươi lăm đồng); tiền lãi quá hạn 200.311.336 đồng (hai trăm triệu ba trăm mười một nghìn ba trăm ba mươi sáu đồng); tiền lãi chậm trả 11.347.011 đồng (mười một triệu ba trăm bốn mươi bảy nghìn không trăm mười một đồng).
    2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201113 ngày 25/11/2022.
    3. Ngay sau khi ông Trương Xuân M và bà Trương Xuân Hà M1 thanh toán xong số tiền còn phải thi hành cho Ngân hàng N thì Ngân hàng N có trách nhiệm thanh lý, giải chấp các hợp đồng liên quan đến số tiền nợ và hoàn trả cho bà Trương Xuân Hà M1 bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp (nếu không còn thế chấp cho khoản vay nào khác), theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202200920 ngày 16/11/2022 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202200919 ngày 16/11/2022.
  1. Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Trương Xuân M và bà Trương Xuân Hà M1 không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ nêu trên thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 657, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã N, huyện B, tỉnh Long An (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CM508811, số vào sổ cấp GCN: CS09399 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 21/3/2018), theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202200920 ngày 16/11/2022 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202200919 ngày 16/11/2022 để thu hồi nợ.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Buộc ông Trương Xuân M phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 52.257.380 đồng (năm mươi hai triệu hai trăm năm mươi bảy nghìn ba trăm tám mươi đồng).
    • - Buộc bà Trương Xuân Hà M1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 78.438.098 đồng (bảy mươi tám triệu, bốn trăm ba mươi tám nghìn không trăm chín mươi tám đồng).
    • Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 36.251.455 đồng (ba mươi sáu triệu, hai trăm năm mươi mốt nghìn, bốn trăm năm mươi lăm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0035558 ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 23.549.852 đồng (hai mươi ba triệu, năm trăm bốn mươi chín nghìn, tám trăm năm mươi hai đồng) theo biên lai thu tiền

tạm ứng án phí số AA/2023/0035557 ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Về chi phí tố tụng:
    • - Buộc ông Trương Xuân M phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
    • - Buộc bà Trương Xuân Hà M1 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
  2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Q.10;
  • - VKSND TP HCM;
  • - Chi cục THADS Q.10;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Xuân Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 396/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 396/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng N tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Trương Xuân M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger