|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 3958/2024/DS-ST Ngày: 26/8/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Cẩm Hiền
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Mai Thanh Giàu
- Ông Phạm Văn Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 2054/2023/TLST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4865/2024/QĐXXST–DS ngày 02 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5933/2024/QÐST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trầm Minh N, sinh năm 1972 (có mặt)
Địa chỉ: Số G đường A, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số H đường L, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Võ Thúy N1, sinh năm: 1972 (có đơn xin vắng mặt)
Trú tại: Số H đường L, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trầm Minh N trình bày: Do quen biết thông qua thông qua công việc, tôi có cho ông Nguyễn Văn L vay số tiền là 500.000.000 đồng để ông L giải quyết khó khăn. Ông L có viết Giấy nhận nợ ngày 06/11/2020, thời hạn vay là 01 tháng và vì cho ông L vay tạm để xử lý công việc nên hai bên thỏa thuận về tiền lãi. Tuy nhiên, hết thời hạn vay nhưng ông Lưu K trả lại tiền cho ông N, ông N đã nhiều lần liên hệ để đòi lại số tiền nhưng ông L đều né tránh. Không thể tự giải quyết nên ông N khởi kiện vụ án yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn L phải trả cho ông Trầm Minh N số tiền nợ đã vay theo Giấy nhận nợ ngày 06/11/2020 là 500.000.000 đồng. Ông N không yêu cầu ông L phải trả tiền lãi phát sinh.
Khi cho ông L vay tiền, ông N chỉ biết ông L và trực tiếp giao tiền cho ông L, không biết rõ thông tin về vợ ông L nên không yêu cầu vợ ông L liên đới trả số tiền nợ nêu trên. Ông N xác định số tiền cho ông L vay là tài sản chung của ông và bà Võ Thúy N1.
Bị đơn ông Nguyễn Văn L có bản tự khai xác nhận còn nợ ông Trầm Minh N số tiền theo như trình bày của ông N. Tuy nhiên, do gặp khó khăn trong kinh doanh nên chưa trả cho ông N và xin được trả dần số tiền còn nợ.
Tại phiên tòa:
- Ông Trầm Minh N vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn L phải trả ngay một lần hết số tiền nợ đã vay là 500.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ ngày 06/11/2020. Ông N không yêu cầu ông L phải trả tiền lãi phát sinh.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn L vắng mặt không có lý do.
- Bà Võ Thúy N1 (là vợ ông Trầm Minh N) có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án đã vi phạm về thời hạn xét xử nhưng một phần do bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt là hợp lệ nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là đúng quy định.
- Về nội dung: Bị đơn vi phạm nghiêm trọng các nội dung trong Giấy nhận nợ ngày 06/11/2020 gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn đã được thông báo về việc bị khởi kiện và xác nhận số tiền nợ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Ghi nhận nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi phát sinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: ông Trầm Minh N khởi kiện ông Nguyễn Văn L yêu cầu trả nợ đã vay theo Giấy vay tiền đã ký kết. Ông Nguyễn Văn L có nơi cư trú tại phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về việc tham gia tố tụng của các đương sự:
- Ông Trầm Minh N thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn L có đăng ký cư trú tại số H đường L, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông L có bản tự khai trình bày ý kiến về việc bị khởi kiện, xác nhận tình trạng cư trú, xác nhận số tiền còn nợ. Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông L vẫn không đến tham gia phiên tòa, không gửi cho tòa lý do vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông L theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Trong vụ án, nguyên đơn khởi kiện ông Nguyễn Văn L, yêu cầu cá nhân ông L trả nợ theo giấy vay nợ đã ký kết, nguyên đơn chưa xác định được các thông tin về vợ ông L, không yêu cầu vợ ông L cùng liên đới trả nợ. Do đó không có cơ sở triệu tập vợ ông L tham gia tố tụng trong vụ án này.
Bà Võ Thúy N1 là vợ ông N, cư trú cùng địa chỉ với ông N, có đơn xin vắng mặt là hợp lệ nên chấp nhận.
[3] Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện ông Nguyễn Văn L có vay của ông Trầm Minh N số tiền là 500.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ ngày 06/11/2020. Mặc dù nguyên đơn đã nhắc nhở, yêu cầu trả nợ khi hết hạn vay nhưng ông Lưu K thực hiện, ông N không đồng ý cho ông L trả dần số tiền vay. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở và bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 “Bên vay tài sản là tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn” nên phải trả lại tiền đã vay cho nguyên đơn.
Ghi nhận việc nguyên đơn ông Trầm Minh N tự nguyện không yêu cầu ông Nguyễn Văn L phải trả tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ vay.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 500.000.000 đồng x 5% = 24.000.000 đồng.
H tại tiền tạm ứng án phí cho ông N theo quy định.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273; Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 463, Điều 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Trầm Minh N.
- Buộc ông Nguyễn Văn L trả cho vợ chồng ông Trầm Minh N, bà Võ Thúy N1 số tiền còn nợ là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Ghi nhận ông Trầm Minh N tự nguyện không yêu cầu ông Nguyễn Văn L phải trả tiền lãi phát sinh.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng) tại C có thẩm quyền.
H lại cho ông Trầm Minh N tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.640.000 đồng (Mười lăm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0000836 ngày 23/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ ĐứC.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
- Về quyền kháng: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với các trường hợp vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Thái Thị Cẩm Hiền |
Bản án số 3958/2024/DS-ST ngày 26/08/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 3958/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vay cá nhân
