Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 395/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 28/12/2023

V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huyên.

Bà Đỗ Thị Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 459/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc: "Ly hôn". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 447/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 316/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023, giữa:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh ngày 20/7/1997,

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu dân cư B, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Nơi ở hiện nay: Số A, đường E Đ, xã Đ, huyện N, Đài Loan.

Người được anh H ủy quyền về việc giao nhận văn bản: Anh Đặng Thái L, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số nhà A, khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 27/6/1997,

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu dân cư K, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Đài Loan.

(Các đương sự đều vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương ngày 28/12/2022. Vợ chồng chung sống đến tháng 02/2023 thì chị T đi lao động tại Đài Loan, tháng 5/2023 anh cũng sang Đài Loan lao động cùng chị. Do tính chất công việc nên vợ chồng không sống cùng nhau mà chỉ cuối tuần mới gặp nhau. Ở Đài Loan được khoảng 02 tháng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách và lối sống vợ chồng không hợp, vợ chồng mâu thuẫn về kinh tế nên thường xuyên xảy ra cãi nhau, chị T xúc phạm anh và gia đình anh. Vợ chồng không gặp và không liên lạc với nhau từ tháng 7/2023, chị nhiều lần yêu cầu anh cung cấp giấy tờ để đề nghị ly hôn sau đó chị không làm. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung cũng như không có nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện anh đang lao động tại Đài Loan nên anh ủy quyền cho anh Đặng Thái L thay anh giao, nhận tài liệu tại Tòa án. Sau khi nhận được các tài liệu, anh L đã thông báo cho anh biết, anh H vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Do anh H không cung cấp được địa chỉ của chị T nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình chị T. Ông Nguyễn Văn C (là bố đẻ chị T) trình bày: Ông không biết địa chỉ cụ thể của chị T ở nước ngoài nên không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên chị T vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại. Ông đồng ý nhận văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho chị T biết, thông qua gia đình chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh H xin ly hôn, chị nhất trí. Chị xác định vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung, không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra ông C còn cung cấp trong thời gian chung sống tại Việt Nam, anh H đã đánh chị T, khi vợ chồng cùng ở Đài Loan anh H tiếp tục đánh chị T, vợ chồng không hợp nhau và đã sống ly thân mỗi người một nơi, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của anh, chị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn H ly hôn chị Nguyễn Thị T. Anh H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn H có nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh tại Khu dân cư B, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Số A, đường E Đ, xã Đ, huyện N, Đài Loan. Bị đơn chị Nguyễn Thị T có nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh ở Khu dân cư K, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương, hiện chị T đang lao động tại Đài Loan. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Mặc dù anh H không có mặt ở Việt Nam nhưng thời gian về nghỉ phép anh đã làm đơn khởi kiện ly hôn, đơn đề nghị thu thập chứng cứ, đơn từ chối hòa giải và ủy quyền cho anh Đặng Thái L thay anh giao nhận tài liệu tại Tòa án. Đơn khởi kiện ly hôn và các tài liệu khác của anh đã được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương xác nhận. Do vậy, có đủ cơ sở khẳng định quan điểm ly hôn của anh là hoàn toàn tự nguyện. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị T. Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình chị T cung cấp địa chỉ nhưng gia đình không cung cấp được. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông C là bố đẻ chị T để thông báo về việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa anh H và chị T đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Ông C vẫn liên lạc với chị T và đã thông báo việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa anh H và chị T. Tại phiên tòa các đương sự vắng mặt và đã có đơn, có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương ngày 28/12/2022 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến tháng 02/2023 chị T đi lao động tại Đài Loan, tháng 5/2023 anh H cũng sang Đài Loan cùng chị. Tuy nhiên do tính chất công việc anh chị không sống chung cùng nhau mà cuối tuần mới gặp nhau. Sau khoảng 02 tháng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp, quan điểm sống bất đồng, mâu thuẫn về kinh tế, vợ chồng không tôn trọng lẫn nhau nên không quan tâm, không liên lạc và đã sống ly thân từ tháng 7/2023 cho đến nay. Anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T. Thông qua gia đình chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến ai, anh H có đơn xin ly hôn, chị nhất trí. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa anh H và chị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H.

[2.2] Về quan hệ con chung, tài sản chung, nợ chung: Anh H, chị T cùng xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3]. Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51; 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn H ly hôn chị Nguyễn Thị T.
  2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) và được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0001229 ngày 19/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (do anh Đặng Thái L nộp thay). Anh H đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND phường Văn Đức, thành phố
  • Chí Linh, tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa GĐ&NCTN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 395/2023/HNGĐ-ST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn

  • Số bản án: 395/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Văn H xin ly hôn chị Nguyễn Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger