Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 395/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26/9/2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tám

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh

Bà Thiều Thị Phi Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Biên Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1718/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 326/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 426/2024/QÐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trọng B, sinh năm 1973

Địa chỉ: Tổ A, KP.5, P. T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1972

Địa chỉ: Tổ A, KP.5, P. T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông B có đơn xin vắng mặt, bà N vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 6 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Trọng B trình bày: Tôi và bà Trần Thị N tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, TP , tỉnh Đồng Nai vào ngày 15/12/1998 trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc. Tuy nhiên gần đây, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không còn hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung. Vì không muốn gia đình đổ vỡ, vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn nhưng không có kết quả. Hiện nay chúng tôi vẫn chung sống cùng nhau nhưng mạnh ai người ấy sống, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi xin được ly hôn với bà Trần Thị N để trả tự do cho nhau.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chúng tôi có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thùy A, sinh ngày 29/9/1999 và cháu Nguyễn Thị Thùy N1, sinh ngày 20/01/2003. Cả hai con chung đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết

Bị đơn bà Trần Thị N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý; thông báo về việc tham gia tố tụng, yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai, có đơn đề nghị vắng mặt nên nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, giấy triệu tập tham gia các buổi làm việc, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa xét xử vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng B. Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Trọng B được ly hôn bà Trần Thị N. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ông Nguyễn Trọng B xin ly hôn bà Trần Thị N, bà N là bị đơn cư trú tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Ông B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bà N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2] Về việc giải quyết vụ án:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông B và bà N tự nguyện chung sống với nhau, được Ủy ban nhân dân phường T, Tp ., tỉnh Đồng Nai cấp chứng nhận đăng ký kết hôn số 158/1998 vào ngày 15/12/1998 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 6, 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986. Nay ông B xin ly hôn, Tòa án căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

2.2. Về yêu cầu xin ly hôn của ông B: Ông B khai, thời gian đầu chung sống, vợ chồng hạnh phúc. Tuy nhiên gần đây, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không còn hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung. Vì không muốn gia đình đổ vỡ, ông bà đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn nhưng không có kết quả. Hiện nay vợ chồng vẫn chung sống cùng nhau nhưng mạnh ai người ấy sống, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Ông B xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn bà N.

Bị đơn bà Trần Thị N đã được Tòa án xác minh là hiện đang sinh sống tại: Tổ A, KP.5, P. T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác cho bà N tại địa chỉ trên nhưng bà N không đến Tòa án để làm việc, cũng không có văn bản trình bày ý kiến. Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thể hiện trong quá trình chung sống, giữa ông B, bà N có xảy ra mâu thuẫn hay không thì địa phương không biết vì khi xảy ra mâu thuẫn, các đương sự không báo với địa phương và không có đơn đề nghị địa phương hoà giải.

Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng ông B, bà N là có thật và hiện đã rất trầm trọng. Vợ chồng không còn quan tâm, tôn trọng nhau, mục đích hôn nhân không đạt, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, nếu tiếp tục kéo dài tình trạng hôn nhân cũng không đem đến hạnh phúc cho nhau. Quá trình giải quyết vụ án, bà N biết Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án nhưng không đến Toà án làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến thể hiện bà đã có ý bỏ mặc việc Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân giữa hai người.

Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn xin ly hôn của ông B, cho ông B được ly hôn với bà N để cả hai sớm ổn định cuộc sống.

2.3. Về con chung: Trong quá trình chung sống ông B, bà N có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thùy A, sinh ngày 29/9/1999 và cháu Nguyễn Thị Thùy N1, sinh ngày 20/01/2003. Cả hai con chung đều đã trưởng thành và các đương sự không yêu cầu Toà án giải nên không xem xét.

2.4. Về tài sản chung: Nguyên đơn khai vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

2.5. Về nợ chung: Nguyên đơn khai vợ chồng không có nợ chung, các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

2.6. Về án phí: Ông Nguyễn Trọng B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 6, 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986

Căn cứ các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Trọng B về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Trọng B, sinh năm 1973 được ly hôn bà Trần Thị N, sinh năm 1972.
  2. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thùy A, sinh ngày 29/9/1999 và cháu Nguyễn Thị Thùy N1, sinh ngày 20/01/2003. Cả hai con chung đều đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Không có, không xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không có, không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Ông Nguyễn Trọng B phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí ông B đã nộp theo biên lai thu số 0004461 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, ông B đã nộp xong án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa ;
  • - Nơi đăng ký kết hôn ;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Tám

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 395/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 395/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Nguyễn Trọng B và bà Trần Thị N tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger