Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 395/2024/DS-PT

Ngày 19 – 9 – 2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

và bồi thường thiệt hại

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập

Ông Đỗ Cao Khánh

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 261/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 86/2024/DS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 220/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị B, sinh năm 1958 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Phan Khánh D là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C (có mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1952.

Địa chỉ cư trú: Ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Huỳnh Hải Â, sinh năm 1990; Địa chỉ cư trú: Ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau (văn bản uỷ quyền ngày 09 tháng 9 năm 2024, có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Ngô Đình C - Văn phòng Luật sư Ngô Đình C thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Văn D1, sinh năm 1951 (có mặt).
    Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  2. Ông Trần Nhị H, sinh năm 1965.
    Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  3. Ông Lê Văn N, sinh năm 1960 (vắng mặt).
  4. Huỳnh Hải Â, sinh năm 1990.
  5. Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1950 (vắng mặt).
  6. Ông Võ Văn L, sinh năm 1984 (vắng mặt).
    Cùng địa chỉ cư trú: Ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  7. Nguyễn Thị T, sinh năm 1941.
    Địa chỉ cư trú: Khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  8. Trần Thị M, sinh năm 1953.
    Địa chỉ cư trú: Ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  9. Phạm Thị T1, sinh năm 1954.
    Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
  10. Trần Ngọc S, sinh năm 1958.
    Địa chỉ cư trú: Khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  11. Trần Minh T2, sinh năm 1968.
    Địa chỉ cư trú: Ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  12. Trần Diễm H1, sinh năm 1968.
    Địa chỉ cư trú: Khóm C, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
  13. Ông Trần Hải S1, sinh năm 1971.
    Địa chỉ cư trú: Khóm C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  14. Trần Mai N2, sinh năm 1973.
    Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  15. Trần Thanh D2, sinh năm 1975.
    Địa chỉ cư trú: Số nhà S, đường C, khu dân cư N Cần Thơ, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
  16. Người đại diện theo ủy quyền của ông H, bà T, bà M, bà T1, bà S, bà T2, bà H1, ông S1, bà N2 và bà D2: Ông Trần Văn D1, sinh năm 1951, Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  17. Ủy ban nhân dân huyện C (vắng mặt).
    Địa chỉ: Khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Bà Trần Thị B là nguyên đơn; bà Nguyễn Thị B1 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn, bà Trần Thị B trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha ruột bà là ông Trần Văn Ú có tổng diện tích là 20.334,6m² nhưng được cấp 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 11.654,6m² (chỉnh lý trang 4) cấp ngày 25/01/2008, diện tích 2.200m² cấp ngày 25/01/2008 và diện tích 6.480m² cấp ngày 17/5/2013, đất tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau. Ông Ú và bà Nguyễn Thị T có tất cả 11 người con chung gồm: Ông Trần Văn D1, bà Trần Anh M1, bà Phạm Thị T1, bà Trần Ngọc S, bà Trần Thị B, bà Trần Minh T2, bà Trần Diễm H1, ông Trần Nhị H, ông Trần Hải S1, bà Trần Mai N2 và bà Trần Thanh D2. Sau khi ông Ú chết năm 2014 không để lại di chúc, bà T và anh em thống nhất để toàn bộ phần đất do ông Ú đứng tên sang cho bà B đứng tên và có văn bản từ chối nhận di sản thừa kế. Nhưng khi làm thủ tục chuyển tên thì phát sinh tranh chấp ranh với bà Nguyễn Thị B1. Bà yêu cầu bà B1 trả lại phần đất lấn chiếm chiều ngang 3 mét, dài 525 mét diện tích khoảng 1.575m², tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau. Sau khi có kết quả đo đạc thực tế thì phần đất tranh chấp có diện tích 1.441,6m², phần diện tích bà đang quản lý, sử dụng (trừ diện tích tranh chấp) là 19.018,7m². Bà thống nhất với kết quả đo đạc và định giá. Phần đất tranh chấp không có thế chấp vay ngân hàng. Trên phần đất tranh chấp bà có cất nhà (dính 01 phần căn nhà), có xây 02 cái cống xổ vuông, có trồng 01 cây mai vàng, 04 cây mai trắng, 01 cây phát tài, 01 cây mít, 06 cây dừa và phần đất bờ ranh. Bà không có yêu cầu gì đối với tài sản trên phần đất tranh chấp nếu buộc bà trả đất thì bà sẽ tự tháo dỡ, di dời, đồng thời không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà B1 trả lại phần đất lấn chiếm theo diện tích đo đạc thực tế 1.441,6m², đất tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Ngoài ra, giữa bà với bà B1 còn tranh chấp đường nước, bà đã sử dụng đường nước chiều ngang giáp kênh Đầu Dừa khoảng 12 mét, chiều dài 60 mét, hậu 15 mét, diện tích khoảng 700m², sử dụng ổn định từ trước đến nay. Sau khi ông Ú chết bà được thừa kế toàn bộ phần đất của ông Ú nhưng khi làm thủ tục chuyển tên thì phát sinh tranh chấp ranh với bà B1. Vào năm 2007 chính quyền địa phương giải quyết hai bên thống nhất để phần đường nước này làm kinh thủy lợi, sử dụng chung nhưng đến ngày 14/10/2022 gia đình bà B1 cắm cậy, đổ đất một phần đường nước này làm cho gia đình bà không xổ nước được. Bà đã nhiều lần yêu cầu bà B1 tháo dỡ rào chắn và khai thông đường nước để bà sử dụng phục vụ nuôi trồng thủy sản nhưng bà Ba k đồng ý và cho rằng đây là đường nước bà B1 đã được cấp giấy chứng nhận. Sau khi có kết quả đo đạc thực tế thì cái bờ đất chặn ngang đường nước do phía bị đơn đắp có diện tích 08m². Tính đến ngày 28/8/2023 thiệt hại do mất thu nhập hàng tháng với số tiền 90.000.000 đồng (tương đương 09 tháng, mỗi tháng 10.000.000 đồng), thiệt hại tiền thả con giống bị chết số tiền 14.500.000 đồng. Nay bà yêu cầu bà B1 và bà Huỳnh Hải  phải bồi thường thiệt hại tính đến ngày 28/8/2023 số tiền 104.500.000 đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại đến khi giải quyết xong vụ án. Đồng thời, buộc bà B1 và bà  tháo dỡ cái bờ đất chặn ngang đường nước có diện tích theo đo đạc thực tế 08m².

- Bị đơn, bà Nguyễn Thị B1, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha mẹ chồng cho vợ chồng bà vào năm 1971. Năm 1992 chồng bà là ông Huỳnh Văn S2 chết. Năm 2004, bà mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 20.950m² ngày 12/7/2004. Phần đất tranh chấp không có thế chấp, cầm cố cho ai. Phần đất hiện nay bà B1, chồng là Nguyễn Văn N1 và vợ chồng con gái Huỳnh Hải Â, Võ Văn L cùng canh tác, sử dụng. Đối với diện tích bà B1 được cấp có đường nước đang tranh chấp hiện nay và đã cho gia đình bà B xổ nhờ đường nước. Không có việc vào năm 2007 chính quyền địa phương giải quyết hai bên thống nhất để phần đường nước này làm kinh thủy lợi, sử dụng chung. Lý do bà B1 đắp một phần đường nước là do gia đình bà B không cho đi qua cống của bà B để xổ vuông. Sau khi có kết quả đo đạc thực tế thì cái bờ đất chặn ngang đường nước có diện tích 08m², đắp ngang cống xổ vuông không cho bà B lấy nước xổ vuông. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Ba k đồng ý vì cái cái bờ đất chặn ngang đường nước là phần đất nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà B1 đứng tên.

Ngoài tranh chấp đường nước thì giữa bà với bà B có tranh chấp bờ ranh, chính quyền địa phương đã giải quyết nhiều lần nhưng không thành. Bà thống nhất với kết quả đo đạc, định giá. Sau khi có kết quả đo đạc thực tế thì phần đất tranh chấp bờ ranh có diện tích 1.441,6m², trong phần tranh chấp này có diện tích 2,2m² (thửa số 2 diện tích 1,4m² và thửa số 3 diện tích 0,8m²). Trên phần đất tranh chấp có 02 cái cống xổ vuông của bà B, 01 phần căn nhà của bà B, bà B có trồng 01 cây mai vàng, 04 cây mai trắng, 01 cây phát tài, 01 cây mít, 06 cây dừa, phần đất tranh chấp còn lại là bờ ranh. Bà B1 không có yêu cầu bà B tháo dỡ căn nhà trả lại đất, vì đất bà B1 cho bà B mượn giữa bà B1 với bà B trước giờ không có tranh chấp. Khi đo đạc thực tế, bà B1 xác định phần đất đang quản lý, sử dụng chưa thống nhất vị trí ranh đất với ông Hồ Xí N3, diện tích 129,6m². Trong vụ án này bà B1 không có yêu cầu tranh chấp với ông N3. Bà không đồng ý trả lại diện tích 1.441,6m², đất tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau, vì phần đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng bà B1 đứng tên.

Huỳnh Hải Á, ông Nguyễn Văn N1 và ông Võ Văn L trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà B1, không có ý kiến gì khác.

Ông Lê Văn N trình bày: Ông là chồng bà B, thống nhất với lời trình bày của bà B, không có ý kiến gì khác.

Ông Trần Văn D1 và ông Trần Nhị H trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà B không bổ sung gì thêm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 86/2024/DS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau quyết định:

Tuyên xử:

Buộc bà Nguyễn Thị B1 trả lại cho bà Trần Thị B phần đất đã lấn theo đo đạc thực tế có vị trí tranh chấp từ các điểm 8, 20, 19, 18, 27, 21, với diện tích 154,9m² và vị trí tranh chấp từ các điểm 21, 22, 23, 6, có cạnh từ điểm 21 đến điểm 8 là 3,365 mét (6,73 mét chia 2) và có cạnh từ điểm 23 đến điểm 5 là 0,64 mét (1,28 mét chia 2), với diện tích 643,35m², đất tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Nguyễn Thị B1 được sử dụng phần đất theo đo đạc thực tế có vị trí tranh chấp từ các điểm 5, 6, 7, 8, có cạnh từ điểm 8 đến điểm 21 là 3,365 mét (6,73 mét chia 2) và có cạnh từ điểm 5 đến điểm 23 là 0,64 mét (1,28 mét chia 2), với diện tích 643,35m², đất tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị B, về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị B1 trả lại đất đối với diện tích chênh lệch là 643,35m², đất tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Buộc bà Nguyễn Thị B1 và bà Huỳnh Hải  tháo dỡ cái bờ đất (đắp nước) chặn ngang đường nước có vị trí tranh chấp từ điểm 1 đến điểm 8, với diện tích theo đo đạc thực tế 08m², đất tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Buộc bà Trần Thị B phải hộ trợ cho bà Nguyễn Thị B1 số tiền 396.000 đồng (Ba trăm chín mươi sáu nghìn đồng).

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Trần Thị B, về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị B1 và bà Huỳnh Hải  phải bồi thường thiệt hại số tiền cua, tôm giống và mất thu nhập tổng số tiền là 104.500.000 đồng (Một trăm lẻ bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

(Kèm theo bản vẽ hiện trạng ngày 24/4/2023 và bản vẽ hiện trạng (đập nước) ngày 24/4/2023 của Công ty TNHH MTV T3)

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 26/6/2024, bà Nguyễn Thị B1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 28/6/2024, bà Trần Thị B có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị B1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Phần tranh luận tại phiên toà:

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, Luật sư Phan Khánh D tranh luận: Yêu cầu của bà B là có căn cứ. Do trên phần đất tranh chấp tại các điểm 5 và 6 trong Bản vẽ hiện trạng đất tranh chấp là trụ đá ranh mà các đương sự đã thoả thuận cắm ranh và được chính quyền địa phương chứng kiến. Ngoài ra, trước kia có một trụ đá cặm khoảng giữa hai cống xổ vuông. Án sơ thẩm không lấy hai trụ đá tại các điểm 5, 6 làm ranh để xác định ranh mà chia đôi phần đất tranh chấp là không có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sửa án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Nguyên đơn, bà Trần Thị B tranh luận: Bà đã sử dụng phần đất tranh chấp lâu dài.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tranh luận: Bà B1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 20.950m² nhưng thực tế sử dụng diện tích 18.113,4m² nếu cộng luôn phần đất tranh chấp bà B1 vẫn còn thiếu diện tích đất bà B1 sử dụng vẫn còn thiếu gần 1.400m² so với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong khi phần đất của bà B sử dụng thiếu khoảng 1.000m². Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên phần đất tranh chấp cho bà B1 sử dụng. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sửa bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị B1 tranh luận: Yêu cầu xử theo quy định. Mong Toà án xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị B. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị B1. Sửa bản án sơ thẩm số: 86/2024/DS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thị B1, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Các đương sự không có kháng cáo đối với quyết định buộc bà B1, bà Hải  tháo dỡ bờ đất (đập nước) từ điểm 1 đến điểm 8 có diện tích 08m², tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét. Bà B và bà B1 có kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm đối với phần đất diện tích 1.441,6m². Hội đồng xét xử xét thấy:

[2] Phần đất của bà B có nguồn gốc do ông Ú để lại với diện tích 20.334,6m² gồm diện tích 11.654,6m² được điều chỉnh trang 4 tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 25 tháng 01 năm 2008; diện tích 2.200m² được cấp giấy chứng nhận 25 tháng 01 năm 2008 và diện tích 6.480m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17 tháng 5 năm 2013. Sau khi ông Ú chết năm 2014, bà B được các anh chị em tặng cho phần đất trên. Bà B đang sử dụng phần đất theo đo đạc thực tế diện tích 19.018,7m² so với diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trừ phần đất tranh chấp) thì bà B sử dụng thiếu diện tích 1.315,9m². Phần đất của bà B1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 12 tháng 7 năm 2004 diện tích 20.950m². Bà B1 đang sử dụng phần đất theo đo đạc thực tế diện tích 18.113,4m². Tại Công văn số 674/UBND ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Ủy ban nhân dân huyện C xác định: Phần đất bà B1 đang tranh chấp với ông H2 Xí Nghiệp 129,6m² và phần đất bà B1 đang tranh chấp với bà Phạm Thị T1 diện tích 1.163m² thuộc diện tích được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà B1. Nếu cộng hai diện tích này thì diện tích sử dụng thực tế (trừ diện tích

đất tranh chấp) vẫn thiếu 1.544m² so với diện tích được cấp giấy chứng chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Ú và bà B1 thể hiện việc cấp giấy không dựa trên đo đạc thực tế mà dựa trên trích lục bản đồ địa chính nên diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không chính xác. Do đó, không thể lấy diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để giải quyết vụ án mà căn cứ vào thực trạng sử dụng đất của các bên để giải quyết vụ án.

[3] Xét phần đất tranh chấp ký hiệu số 5 tại Bản vẽ hiện trạng có diện tích 154,9m², bà B đã xây cất nhà ổn định, trồng nhiều cây lâu năm trên đất, xây cống xổ vuông để nuôi tôm nhưng bà B1 không có ý kiến gì, trong khi bà B và bà B1 tranh chấp ranh đất từ năm 2007. Thực tế, hai cống xổ vuông của bà B đã được xây trước năm 2007. Do đó, có cơ sở xác định phần đất diện tích 154,9m² là của bà B.

[4] Xét phần đất tranh chấp được ký hiệu số 8 tại Bản vẽ hiện trạng có diện tích 1.286,7m². Hội đồng xét xử xét thấy, phần ranh đất này nguyên đơn, bị đơn có tranh chấp vào năm 2007 và được Ban N4, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau hoà giải thành vào ngày 10 tháng 7 năm 2007 với nội dung: Bà B1 thừa nhận cái bờ vuông là của bà B. Bà B1 đồng ý kè bờ vào bờ của bà B để không xoáy lở bờ của bà B. Sau khi hoà giải, hai bên có cặm ranh bằng trụ đá có sự chứng kiến của chính quyền địa phương (bút lục số 7, 8, 14). Đến ngày 28 tháng 7 năm 2007, Ban N4, xã Đ, huyện C tiến hành lập “Biên bản xác minh” theo yêu cầu của ông Ú với nội dung: Ranh bờ đã được hai bên tự thoả thuận có sự chứng kiến của chính quyền vào ngày 10 tháng 7 năm 2007 nhưng hiện nay cây ranh trên bị gia đình bà B1 nhổ bỏ, chỉ còn cây ranh dưới. Trên bờ thuộc quyền sử dụng của bà B, gia đình bà B1 cắm một hàng cây với ý đồ thể hiện ranh giới vi phạm hoàn toàn trên bờ ông Ú. Điều này thể hiện phần bờ là của bà B. Tại Biên bản xác minh ngày 08 tháng 11 năm 2007 của địa chính xã Đ và Ban N4, xã Đ xác minh đất của ông Ú chuyển cho con trong đó bà B1 là chủ đất giáp ranh ký tên thì ranh đất của ông Ú với bà B1 là ranh thẳng từ tiền tới hậu (bút lục số 17-21). Hiện nay, trên bờ còn hai trụ đá ranh tại điểm 5 và điểm 6 nối thẳng ranh với phần đất bà B đang sử dụng được ký hiệu số 6 là ranh thẳng và cũng là phần bờ chính bà B1 thừa nhận của bà B tại Biên bản hoà giải ngày 10 tháng 7 năm 2007. Yêu cầu của bà B buộc bà B1 trả phần đất này là có cơ sở, Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm về phần này.

[5] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị B. Không nhấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị B1. Sửa bản án sơ thẩm số: 86/2024/DS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

[6] Chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc và định giá số tiền 36.710.000 đồng, do Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên nguyên đơn phải chịu, nguyên đơn đã dự nộp.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị B không phải chịu án phí. Bà Nguyễn Thị B1 là người cao tuổi, có yêu cầu miễn nộp án phí nên được miễn nộp.

[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị B không phải chịu án phí. Bà Nguyễn Thị B1 là người cao tuổi, có yêu cầu miễn nộp án phí nên được miễn nộp.

[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị B. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị B1.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 86/2024/DS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị B.

    Buộc bà Nguyễn Thị B1 trả lại cho bà Trần Thị B phần đất được ký hiệu số 5 diện tích 154,9m² và số 8 với diện tích 1.286,7m², đất tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

    Buộc bà Nguyễn Thị B1 và bà Huỳnh Hải  tháo dỡ đập nước được kí hiệu tại các thửa số 1, 2 và 3 (có vị trí từ điểm 1 đến điểm 8), diện tích theo đo đạc thực tế 08m², tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

    Buộc bà Trần Thị B thanh toán cho bà Nguyễn Thị B1 số tiền 396.000 đồng.

    (Kèm theo Bản vẽ hiện trạng ngày 24/4/2023 và Bản vẽ hiện trạng (đập nước) ngày 24/4/2023 của Công ty TNHH MTV T3).

  2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Trần Thị B về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị B1 và bà Huỳnh Hải  phải bồi thường thiệt hại số tiền là 104.500.000 đồng.
  3. Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị B phải chịu chi phí tố tụng số tiền 36.710.000 đồng, đã nộp xong.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị B không phải chịu án phí. Bà Nguyễn Thị B1 được miễn nộp án phí.
  5. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị B không phải chịu án phí. Bà Nguyễn Thị B1 được miễn nộp án phí.
  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 395/2024/DS-PT ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại

  • Số bản án: 395/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nay bà yêu cầu bà B1 và bà Huỳnh Hải  phải bồi thường thiệt hại tính đến ngày 28/8/2023 số tiền 104.500.000 đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại đến khi giải quyết xong vụ án. Đồng thời, buộc bà B1 và bà  tháo dỡ cái bờ đất chặn ngang đường nước có diện tích theo đo đạc thực tế 08m2
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger