Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 395/2024/HS-ST

Ngày: 16-8-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phan Thị Bé
  2. Ông Nguyễn Văn Phòng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 333/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 396/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 91/2024/QĐTS-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

  1. Phạm Thị Trúc P (tên gọi khác: H), sinh năm: 1984 tại tỉnh Bến Tre; Hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phạm Văn O và bà Nguyễn Thị T, năm sinh: không rõ; gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là con thứ 2; bị cáo chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/12/2023; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Mai Thị X, sinh năm: 1979 tại tỉnh Thanh Hóa; Hộ khẩu thường trú: Tiểu khu M, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Số C Đường B, khu phố B, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Mai Văn C (đã chết); mẹ: Mai Thị M; gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con lớn; con Mai Thiên T1, sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/12/2023; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1972, địa chỉ: A Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Ông Khổng Văn T2, sinh năm: 1973, địa chỉ: A Đường G, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Bà Trần Thị K, sinh năm: 1983, địa chỉ: A Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Bà Trương Thị Như Ý, sinh năm: 1989, địa chỉ: A Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  5. Bà Trần Thị O1, sinh năm: 1977, địa chỉ: A Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  6. Bà Hứa Thị Kim L1, sinh năm: 1983, địa chỉ: A Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  7. Anh Trần Hà Quang A, sinh năm: 2007, địa chỉ: Căn hộ A, chung cư A, số F M, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Bà Hà Thị Phương M1.
  8. Anh Sầm Vĩ T3, sinh năm: 1991, địa chỉ: 8 Tỉnh lộ 10, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  9. Anh Trần Văn C1, sinh năm: 1998, địa chỉ: 4 Cầu X, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  10. Anh Đặng Hữu H1, sinh năm: 1975, địa chỉ: 5 xã D, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  11. Anh Phan Minh Phương T4, sinh năm: 1992, địa chỉ: E Đường D, khu phố F, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  12. Bà Lữ Ngọc H2, sinh năm: 1988, địa chỉ: A Đường G, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  13. Bà Nguyễn Thị Bé N, sinh năm: 1987, địa chỉ: A Đường G, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  14. Anh Nguyễn Trung T5, sinh năm: 1995, địa chỉ: I P, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 20 phút, ngày 16/12/2023 Đ phối hợp với Công an phường T tiến hành kiểm tra quán cà phê không tên tại số A Đ, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do Mai Thị X làm quản lý và số 17 Đường G, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do Phạm Thị Trúc P (tên gọi khác là H) làm quản lý, bắt quả tang 05 cặp nam nữ đang mua bán dâm, cụ thể:

Tại địa chỉ số A Đ, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có 03 cặp nam nữ đang tiến hành mua bán dâm, gồm: Trần Thị K, Hứa Thị Kim L1, Trần Thị O1 đang bán dâm cho Trần Văn C1, Trần Hà Quang A, Phan Minh Phương T4

Tại địa chỉ số A đường G, khu phố A, phường T, TP ., TP . có 02 cặp nam nữ mua bán dâm, gồm: Nguyễn Thị Bé N, Lữ Ngọc H2 đang bán dâm cho Đặng Hữu H1, Nguyễn Trung T5.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phạm Thị Trúc P và Mai Thị X khai nhận như sau:

Ngày 10/03/2023, Phạm Thị Trúc P ký hợp đồng với bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1972) thuê căn nhà số A Đ, Khu phố A, phường T, TP ., TP . với giá 12.000.000 đồng/1 tháng; thời hạn 24 tháng mở quán cà phê rồi thuê nhân viên nữ massage, kích dục khi khách có nhu cầu. Đến tháng 10/2023, P giao cho Mai Thị X quản lý quán cà phê này. P và X thuê Trần Thị K, Hứa Thị Kim L1, Trần Thị O1 và Trương Thị Như Ý làm nhân viên phục vụ và thỏa thuận với nhân viên nếu khách có nhu cầu massage, kích dục và mua dâm thì tự nhân viên thỏa thuận với khách giá cả, hình thức phục vụ. Khi có khách đến liên hệ massage, kích dục thì lấy giá 250.000 đồng/1 lượt khách và nếu mua dâm thì lấy giá 400.000 đồng/1 lượt khách (nếu nhân viên thỏa thuận được nhiều hơn thì nhân viên hưởng). Mỗi lần có khách đến massage, kích dục và mua dâm thì nhân viên sẽ tự cập nhật vào sổ để tính số lượng khách đến trong ngày. Sau đó, đưa cho X từ 100.000 đồng đến 120.000 đồng/1 khách. Ngày 30 hàng tháng, X chia cho P số tiền 22.000.000 đồng (trong đó: 12.000.000 đồng tiền thuê căn nhà A Đ, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh). Phạm Thị Trúc P thuê căn nhà số A đường số G, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Khổng Văn T2 (sinh năm 1973) làm chủ nhà để mở quán cà phê rồi thuê 02 người tên Nguyễn Thị Bé N và Lữ Ngọc H2 thực hiện hành vi massage, kích dục và bán dâm khi khách có nhu cầu. Sau khi N và H2 massage, kích dục và bán dâm cho khách thì P thu của mỗi người số tiền 100.000 đồng/1 lượt khách.

Quá trình điều tra xác định, trong khoảng thời gian từ ngày 12/12/2023 đến ngày 16/12/2023, Phạm Thị Trúc P cùng với Mai Thị X đã thực hiện hành vi chứa 06 gái mại dâm, gồm: Trần Thị K, Hứa Thị Kim L1, Trần Thị O1, Trương Thị Như Ý, Nguyễn Thị Bé N và Lữ Ngọc H2 để bán dâm thu lợi bất chính. Trong đó, Phạm Thị Trúc P chứa mại dâm khoảng 43 lần, thu lợi số tiền 50.000.000 đồng; Mai Thị X chứa khoảng 42 lần thu lợi số tiền 30.000.000 đồng. (BL 27, 36-39, 61-109)

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 03 (ba) bao cao su đã qua sử dụng;
  • 03 (ba) bao cao su chưa sử dụng;
  • 01 (một) cuốn sổ màu trắng có ghi nhận nội dung thời gian khách đến massage, kích dục và bán dâm tại quán cà phê địa chỉ: A Đ, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • Tiền Ngân hàng Việt Nam: 1.600.000 đồng

Cáo trạng số 329/CT-VKSTPTĐ ngày 25/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo Phạm Thị Trúc P về tội “Chứa mại dâm” quy định tại điểm c, d, g khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Mai Thị X về tội “Chứa mại dâm” quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T luận tội bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Mai Thị X phạm tội “Chứa mại dâm”; bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, mẹ đẻ của bị cáo là người có công với cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và căn cứ Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Mai Thị X từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù; áp dụng điểm c, d, g khoản 2 Điều 327 tuyên bố bị cáo Phạm Thị Trúc P phạm tội “Chứa mại dâm”; bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo là lao động chính trong gia đình, cha đẻ của bị cáo là người có công với cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và căn cứ Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo xử phạt bị cáo Phạm Thị Trúc P từ 05 năm tháng 06 tháng đến 06 năm tù; buộc các bị cáo Mai Thị X phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 30.000.000 đồng và bị cáo Mai Thị Trúc P1 nộp lại số tiền thu lợi bất chính 50.000.000 đồng vào ngân sách Nhà nước; Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy 03 (ba) bao cao su đã qua sử dụng và 03 (ba) bao cao su chưa sử dụng; nộp sung công Nhà nước số tiền Ngân hàng V: 1.600.000 đồng; các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

- Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc vắng mặt của người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và quyền lợi của họ nên Tòa án vẫn tiến hành mở phiên vắng mặt người có quyền, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo Mai Thị X và Phạm Thị Trúc P phù hợp với nội dung: Biên bản ghi nhận sự việc lập lúc 20 giờ 20 phút ngày 16/12/2023 và Biên bản ghi nhận sự việc lập lúc 22 giờ 20 phút ngày 16/12/2023 của Công an phường T, thành phố T, phù hợp với lời khai của những người có quyền, nghĩa vụ liên quan; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở xác định:

Trong khoảng thời gian từ ngày 12/12/2023 đến ngày 16/12/2023, Phạm Thị Trúc P cùng với Mai Thị X đã thực hiện hành vi chứa 06 gái mại dâm để bán dâm nhằm thu lợi bất chính tại quán cà phê số A Đ, khu phố A, phường T và số A Đường G, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể: Phạm Thị Trúc P đã chứa 06 gái mại dâm, gồm: Trần Thị K, Hứa Thị Kim L1, Trần Thị O1, Trương Thị Như Ý, Nguyễn Thị Bé N và Lữ Ngọc H2 bán dâm khoảng 43 lần, thu lợi bất chính số tiền 50.000.000 đồng; Mai Thị X chứa 04 gái mại dâm, gồm: Trần Thị K, Hứa Thị Kim L1, Trần Thị O1, Trương Thị Như Ý bán dâm khoảng 42 lần, thu lợi bất chính số tiền 30.000.000 đồng. Vào lúc 20 giờ 20 phút ngày 16/12/2023, khi các gái mại dâm trên đang bán dâm cho khách tại 02 quán cà phê số A Đ, khu phố B và số A đường G, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị bắt quả tang. Hành vi trên của Phạm Thị Trúc P đã phạm vào tội “Chứa mại dâm” quy định tại điểm c, d, g khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và hành vi của Mai Thị X phạm tội “Chứa mại dâm” quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và Điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Phạm Thị Trúc P và Mai Thị X là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đây vụ án có đồng phạm, mang tính chất giản đơn, bị cáo P là người khởi xướng và cùng thực hiện với bị cáo X; bị cáo X tham gia với vai trò là người giúp sức, và cùng thực hiện hành vi chứa mại dâm nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý xã hội, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây bất bình cho người dân đang sinh sống tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do đó, cần phải xử các bị cáo với mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, cũng xét trong quá trình điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu; nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo X có mẹ đẻ là người có công với cách mạng theo Quyết định số 3454/QĐ-BTL ngày 29/12/2021 của Bộ về việc thực hiện chế độ trợ cấp một lần đối với dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế theo Quyết định số 49/2015/QĐ-TTg ngày 14/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ; bị cáo P có cha đẻ là người có công với cách mạng theo Quyết định số 21/QĐ-BTL ngày 09/01/2017 của Bộ 1 về việc thực hiện chế độ trợ cấp một lần đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ; cha mẹ của bị cáo P đã già, yếu không có khả năng lao động, bị cáo là lao động chính trong gia đình theo Đơn xin xác nhận đề ngày 25/7/2024, đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre xác nhận là đúng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên giảm cho các bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.

Đối với Trần Thị K, Hứa Thị Kim L1, Trần Thị O1, Trương Thị Như Ý, Nguyễn Thị Bé N và Lữ Ngọc H2 là những gái bán dâm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ;

Đối với Trần Văn C1, Trần Hà Quang A, Phan Minh Phương T4, Đặng Hữu H1, Nguyễn Trung T5 là những người mua dâm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có cơ sở.

Đối với bà Nguyễn Thị L và ông Khổng Văn T2 là những người cho Phạm Thị Trúc P thuê nhà. Chị L, anh T2 không biết P dùng nhà của mình để thực hiện hoạt động chứa mại dâm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:

  • Tịch thu, tiêu hủy 03 (ba) bao cao su đã qua sử dụng và 03 (ba) bao cao su chưa sử dụng;
  • 01 (một) cuốn sổ màu trắng có ghi nhận nội dung thời gian khách đến massage, kích dục và bán dâm tại quán cà phê địa chỉ: A Đ, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên lưu kèm hồ sơ vụ án.
  • Tiền Ngân hàng V: 1.600.000 đồng là tiền phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước theo Giấy nộp tiền ngày 10/6/2024 Công an thành phố T chuyển vào tài khoản của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức.
  • Buộc bị cáo Phạm Thị Trúc P nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 50.000.000 đồng.
  • Buộc bị cáo Mai Thị X nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 30.000.000 đồng.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Về án phí: Các bị cáo được thực hiện quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị Trúc P và Mai Thị X và phạm tội “Chứa mại dâm”;
  2. Căn cứ vào điểm c, d khoản 2 Điều 327; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    - Xử phạt các bị cáo Mai Thị X 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023.

  3. Căn cứ vào điểm c, d, g khoản 2 Điều 327; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    - Xử phạt các bị cáo Phạm Thị Trúc P 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023.

  4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021:
    • Tịch thu, tiêu hủy: 03 (ba) bao cao su đã qua sử dụng và 03 (ba) bao cao su chưa sử dụng.

      (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 369/QĐ-VKS ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức).

    • Nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.600.000 đồng theo Giấy nộp tiền ngày 10/6/2024 Công an thành phố T chuyển vào tài khoản của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức.
    • Buộc bị cáo Phạm Thị Trúc P nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính 50.000.000 đồng;
    • Buộc bị cáo Mai Thị X nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính 30.000.000 đồng;
    • Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) cuốn sổ màu trắng có ghi nhận nội dung thời gian khách đến massage, kích dục và bán dâm tại quán cà phê địa chỉ: A Đ, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  5. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc các bị cáo Mai Thị X phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Buộc các bị cáo Phạm Thị Trúc P phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021:

    Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND TP.HCM;
  • - VKSND TP HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tăng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 395/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - chứa mại dâm

  • Số bản án: 395/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Chứa mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt tù giam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger