Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 395/2024/DS-ST

Ngày: 16/7/2024

V/v tranh chấp hợp đồng

vay tài sản.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Diễm .

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Lâm Thị Nga
  2. Ông Nguyễn Khắc Nhu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 554/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 609/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 804/QĐHPT-DSST ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa:

Nguyên đơn: Ông Bùi Xuân T, sinh năm 1974.

Địa chỉ: 3 tổ B, khu phố B, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

- Đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Văn T1, sinh năm 1960. (Có mặt)

(Giấy ủy quyền ngày 28/11/2023 tại Phòng C)

Địa chỉ liên lạc: 4 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Nhà không số thuộc hẻm D, đường T, tổ B, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lã Hữu B, sinh năm 1991
  2. Địa chỉ: Nhà không số thuộc hẻm D, đường T, tổ B, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

  3. Bà Phạm Thị T3, sinh năm 1979. (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: 389/27/48 tổ B, khu phố B, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    - Đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Văn T1, sinh năm 1960. (Có mặt)

    (Giấy ủy quyền ngày 24/01/2024 tại Phòng C1)

    Địa chỉ liên lạc: 4 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 11/10/2023 và trong các bản tự khai, biên bản hòa giải tại các phiên hòa giải tại Tòa án, Đại diện ủy quyền nguyên đơn - ông Bùi Xuân T là ông Đinh Văn T1 trình bày:

Năm 2020, ông Bùi Xuân T kinh doanh mặt hàng nón vải, bà Nguyễn Thị Tuyết m nón và bỏ mối (bán) cho ông T nên họ quen biết nhau. Sau đó, nhiều lần bà T2 hỏi vay mượn tiền ông T để kinh doanh làm ăn. Vì tin tưởng nhau, nên ông T đã cho bà T2 vay tiền.

- Lần 1:

Ngày 26/11/2020: Ông T cho bà T2 mượn 70.000.000 đồng. Bà T2 hẹn trong hạn 15 ngày sẽ trả đủ. Nhưng sau đó, bà T2 chỉ trả 10.000.000 đồng, còn nợ lại: 60.000.000 đồng. Việc mượn và trả tiền lần này bà T2 có lập Giấy mượn tiền và ký xác nhận. Nhưng đến nay bà T2 vẫn chưa trả ông T số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng.

Ngày 27/02/2021: Bà T2 mượn ông T thêm 35.000.000 đồng hẹn cuối tháng giêng âm lịch sẽ trả tiền. Việc mượn thêm 35.000.000 đồng này, bà T2 viết trực tiếp vào Giấy mượn tiền ngày 26/11/2020 nhưng đến nay bà T2 vẫn chưa trả ông T số tiền mượn thêm là 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng.

Giấy mượn tiền ghi ngày 26/11/2020, bà T2 mượn 2 (hai) lần, số tiền còn nợ lại là: 60.000.000 đồng + 35.000.000 đồng = 95.000.000 (chín mươi lăm triệu) đồng.

- Lần 2:

Ngày 10/02/2021, bà T2 tiếp tục mượn ông T 300.000.000 đồng và hẹn ngày 10/03/2021 sẽ trả đủ. Việc mượn tiền lần này bà T2 có lập Giấy mượn tiền và ký xác nhận. Tuy nhiên, đến nay bà T2 vẫn chưa trả ông T số tiền là: 300.000.000 ba trăm triệu) đồng.

- Lần 3:

Ngày 19/01/2022, bà T2 tiếp tục vay ông T 500.000.000 đồng hẹn đến ngày 30/02/2022 thì bà T2 sẽ trả tiền. Trong ngày 19/01/2022, bà T2 mượn thêm 160.000.000 đồng, hẹn trong tuần sau sẽ thanh toán số tiền 160.000.000 đồng.

Cả 2 khoản tiền vay này bà T2 có lập Giấy vay nợ và ký xác nhận. Tuy nhiên, đến nay bà T2 vẫn chưa trả ông T số tiền vay là: 660.000.000 (Sáu trăm sáu mươi triệu) đồng.

Như vậy, tính đến ngày 14/11/2022, sau nhiều lần bà T2 vay mượn tiền của ông T thì các bên có lập giấy xác nhận giấy vay nợ với tổng số tiền bà T2 vay còn nợ lại ông T là 980.000.000 đồng (chín trăm tám mươi triệu đồng chẵn).

Đã quá hạn trả nợ, mặc dù ông T đã nhiều lần liên lạc và yêu cầu bà T2 trả nợ, nhưng bà T2 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông T.

Nay, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các yêu cầu như sau:

  1. Buộc bà Nguyễn Thị T2 phải trả ông T số tiền đã mượn và vay gồm: nợ gốc và tiền lãi, tạm tính đến ngày 16/7/2024 số tiền là:
  2. Tiền gốc: 980.000.000 đồng.

    Tiền lãi: 980.000.000 x 20 tháng (từ ngày 14/11/2022 đến 16/7/2024) x 0.8%/tháng = 156.800.000 đồng

    Tổng số tiền bà T2 phải trả ông T, là:

    980.000.000 đồng + 156.800.000 đồng = 1.136.800.000 đồng.

    (bằng chữ: một tỷ một trăm ba mươi sáu triệu tám trăm nghìn đồng).

  3. Nguyễn Thị T2 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 17/7/2024 đến ngày bà T2 trả hết nợ cho ông T theo quyết định (bản án) của Tòa án.
  4. Khi bà Nguyễn Thị T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì ông T có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự xử lý tài sản có liên quan tới quyền tài sản của bà Nguyễn Thị T2 để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị T2 vắng mặt tại các phiên hòa giải tại Tòa án mà không có lý do nên không có ý kiến trình bày .

Tại bản tự khai cũng như tại các biên bản hòa giải tại các phiên hòa giải tại Tòa án thì Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị T3 (vợ ông Bùi Xuân T) – có Đại diện ủy quyền là ông Đinh Văn T1 trình bày:

Việc ông T (chồng tôi) cho bà Nguyễn Thị T2 vay mượn tiền thì bà T3 không biết và số tiền đó là tài sản riêng của ông T. Bà T3 không có đóng góp gì trong số tiền mà ông T đưa cho bà T2 vay mượn. Do vậy, ông Bùi Xuân T là chủ sở hữu toàn bộ số tiền nêu trên, toàn bộ số tiền lãi phát sinh trong việc cho vay mượn nêu trên cũng là tài sản riêng của ông Bùi Xuân T theo quy định của pháp luật. Bà T3 cam kết không có bất kỳ tranh chấp, khiếu nại nào và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ nội dung cam kết nêu trên.

T3 xin vắng mặt toàn bộ quá trình tố tụng và bà T3 đã ủy quyền toàn bộ cho ông Đinh Văn T1. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản tự khai cũng như tại các biên bản hòa giải tại các phiên hòa giải tại Tòa án thì Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lã Hữu B (chồng bà Nguyễn Thị T2) trình bày:

Tôi là chồng của bà Nguyễn Thị T2 - Bị đơn trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, Nguyên đơn là ông Bùi Xuân T. Việc vay mượn tiền giữa bà T2 (vợ tôi) với ông T thì ông B hoàn toàn không biết về số tiền vay bao nhiêu, mục đích vay tiền của bà T2 để làm gì thì ông B cũng không hề biết. Nay, ông T khởi kiện bà T2 thì ông B không có ý kiến gì và cũng không liên quan gì đến việc này.

Trong giấy vay nợ ngày 19/01/2022 có phần chữ ký họ và tên của ông Lã Hữu B thì ông B xác định chữ ký họ và tên đó không phải là chữ ký của ông B, ông B chưa từng ký vào bất kỳ giấy vay mượn nợ nào.

Trước đây, ông B và bà T2 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình vào khoảng năm 2013, nhưng hiện nay ông B đã làm thất lạc Giấy chứng nhận kết hôn. Hiện nay, ông B không biết bà T2 đang làm gì và đang ở đâu vì ông B chỉ liên lạc được bằng điện thoại với bà T2.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thủ tục niêm yết công khai thông báo về việc thụ lý vụ án đối với Bị đơn là bà Nguyễn Thị Tuyết . Tuy nhiên,Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là ông Bùi Xuân T.

Tòa án tiếp tục triệu tập các đương sự để tham gia về phiên hòa giải nhưng liên tục vắng mặt không có lý do. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên vụ án đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.

Tại phiên tòa ngày 21/6/2024, Bị đơn – bà Nguyễn Thị T2 và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Lã Hữu B vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại các điều 227 và 233 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa ngày 16/7/2024, Bị đơn – bà Nguyễn Thị T2 vắng mặt (lần 2) không có lý do nên Hội đồng vẫn tiến hành mở phiên tòa xét xử theo quy định tại các Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện ủy quyền Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu Bị đơn thanh toán tổng số tiền còn nợ là: tiền gốc: 980.000.000 đồng; tiền lãi: 980.000.000 x 20 tháng (từ ngày 14/11/2022 đến 16/7/2024) x 0.8%/tháng = 156.800.000 đồng; tổng số tiền bà T2 phải trả ông T, là: 980.000.000 đồng + 156.800.000 đồng = 1.136.800.000 đồng.

(bằng chữ: một tỷ một trăm ba mươi sáu triệu tám trăm nghìn đồng).

Buộc Bị đơn phải trả nợ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  1. Nguyễn Thị T2 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 17/7/2024 với mức lãi suất là: 0,8%/tháng đến ngày bà T2 trả hết nợ cho ông T theo quyết định (bản án) của Tòa án.
  2. Đại diện ủy quyền Nguyên đơn xin rút yêu cầu trong Đơn khởi kiện: Khi bà Nguyễn Thị T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì ông T có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự xử lý tài sản có liên quan tới quyền tài sản của bà Nguyễn Thị T2 để thu hồi nợ theo pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:

Phạm Thị T3 (có đại diện ủy quyền là ông Đinh Văn T1) và đơn xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng, xác định và vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày là toàn bộ số tiền ông Bùi Xuân T cho bà Nguyễn Thị T2 vay mượn nêu trên là tài sản riêng của ông Bùi Xuân T, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và không liên quan gì đến bà Phạm Thị T3.

Ông Lã Hữu B vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại các bản tự khai và các biên bản hòa giải tại Tòa án, ông B không bổ sung, thay đổi hay trình bày gì thêm.

Bị đơn – bà Nguyễn Thị T2 vắng mặt (lần 2) không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Ngoài các tài liêu,chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án nhân dân Quận 12 thụ lý, giải quyết vụ án đến trước khi xét xử thấy rằng Thẩm P đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ các thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tuy thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng không ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc xét xử vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định tại mục 1, 2, 3 Chương XIV của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70;71;73 của Bộ luật tố tụng dân sự, Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70;72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án:

  1. Yêu cầu của Nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả tiền nợ gốc và lãi, căn cứ khoản 1 Điều 466; khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  2. Đề nghị đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của Đại diện ủy quyền Nguyên đơn xin rút yêu cầu trong Đơn khởi kiện: Khi bà Nguyễn Thị T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì ông T có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự xử lý tài sản có liên quan tới quyền tài sản của bà Nguyễn Thị T2 để thu hồi nợ theo pháp luật, căn cứ theo khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
  2. Tranh chấp giữa ông Bùi Xuân T với bà Nguyễn Thị T2 là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Theo kết quả xác minh cư trú của Công an phường T, quận A thì bà Nguyễn Thị T2 không còn cư trú tại Nhà không số thuộc hẻm D, đường T, tổ B, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 5/2023. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017; các Điều 26, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về yêu cầu của đương sự:
  4. Căn cứ vào lời khai của đương sự; căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được, có đủ cơ sở xác định:

    Căn cứ vào các Giấy mượn tiền (giấy vay nợ): ngày 26/11/2020; ngày 10/02/2021; ngày 19/01/2022 và ngày 14/11/2022 và lời trình bày của Nguyên đơn tại các bản tự khai và tại các phiên hòa giải có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị T2 vay của ông Bùi Xuân T tổng số tiền là: 980.000.000 (Chín trăm tám mươi triệu) đồng và có chữ ký họ và tên bà Nguyễn Thị T2 với ông Bùi Xuân T.Vậy đây là hợp đồng dân sự được giao kết giữa ông Bùi Xuân T với bà Nguyễn Thị T2 được quy định tại Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Tại phiên tòa, Nguyên đơn có đại diện ủy quyền là ông Đinh Văn T1 trình bày: vẫn giữ nguyên yêu cầu Bị đơn thanh toán số tiền đã vay mượn chưa trả là: 980.000.000 (Chín trăm tám mươi triệu) đồng, yêu cầu trả tiền lãi: 980.000.000 x 20 tháng (từ ngày 14/11/2022 đến 16/7/2024) x 0.8%/tháng = 156.800.000 đồng ; tổng số tiền bà T2 phải trả ông T, là: 980.000.000 đồng + 156.800.000 đồng = 1.136.800.000 đồng. (bằng chữ: một tỷ một trăm ba mươi sáu triệu tám trăm nghìn đồng). Buộc Bị đơn phải trả nợ ngay khi có bản án có hiệu lực pháp luật.

    Nguyễn Thị T2 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 17/7/2024 với mức lãi suất là: 0,8%/tháng đến ngày bà T2 trả hết nợ cho ông T theo quyết định (bản án) của Tòa án.

    Đại diện ủy quyền Nguyên đơn xin rút yêu cầu trong Đơn khởi kiện: Khi bà Nguyễn Thị T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì ông T có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự xử lý tài sản có liên quan tới quyền tài sản của bà Nguyễn Thị T2 để thu hồi nợ theo pháp luật.

    Tại phiên tòa, Đại diện ủy quyền Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – bà Phạm Thị T3 là ông Đinh Văn T1 trình bày: vẫn giữ nguyên ý kiến bà T3 tại bản tự khai của bà T3 và không bổ sung ý kiến gì thêm.

    Tại phiên tòa, ông Lã Hữu B vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại các bản tự khai và các biên bản hòa giải tại Tòa án, ông B không bổ sung, thay đổi hay trình bày gì thêm.

    Tại phiên tòa, Bị đơn – bà Nguyễn Thị T2 vắng mặt (lần 2) không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn

Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo quy định tại các Điều 385; Điều; Điều 386 và Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa xác định: Nguyên đơn và Bị đơn có chữ ký họ và tên để xác nhận các Giấy mượn tiền (giấy vay nợ): ngày 26/11/2020; ngày 10/02/2021; ngày 19/01/2022 và ngày 14/11/2022 do cá nhân ông T cho bà T2 vay tiền với tổng số tiền cho vay mượn là: 980.000.000 (Chín trăm tám mươi triệu) đồng, vậy đây là hợp đồng dân sự được giao kết giữa ông Bùi Xuân T với bà Nguyễn Thị Tuyết .

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng Bị đơn không thanh toán bất kỳ đồng nào cho Nguyên đơn, mặc dù Nguyên đơn liên lạc nhiều lần yêu cầu Bị đơn thanh toán số tiền đã vay mượn nhưng không liên lạc được. Do đó, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn phải thanh toán số tiền đã mượn chưa trả cho Nguyên đơn là: 980.000.000 (Chín trăm tám mươi chín triệu) đồng và tiền lãi là: 156.800.000 đồng, tổng cộng số tiền nợ gốc và nợ lãi phải trả là: 1.136.800.000 đồng. Vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại các Điều 351; Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa ngày 16/7/2024, Bị đơn - bà Nguyễn Thị T2 vắng mặt (lần 2) không có lý do nên Tòa án không có lời trình bày của Bị đơn cũng như trong quá trình hòa giải của Tòa án, Bị đơn không cung cấp được bất kỳ giấy tờ tài liệu gì để chứng minh cho số tiền đã vay mượn chưa trả mà Nguyên đơn là ông Bùi Xuân T khởi kiện.

Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt Bị đơn.

Xét thấy, căn cứ vào các Điều 351; Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì Bị đơn - bà Nguyễn Thị T2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Nguyên đơn nên yêu cầu trên của Nguyên đơn – ông Bùi Xuân T là có căn cứ và hợp pháp, về lãi suất thì nguyên đơn có yêu cầu tính lãi suất là: 0,8%/tháng, tức: 9,6%/năm là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị đơn - bà Lê Thị T4 đã vay tổng cộng số tiền là: 980.000.000 (Chín trăm tám mươi triệu) đồng của Nguyên đơn trong thời kỳ hôn nhân với ông Lã Hữu B (Theo Giấy trích lục kết hôn số 118/2024/TLKH-BS ngày 15/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – ông Lã Hữu B vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại các bản tự khai và tại các phiên hòa giả tại Tòa án. Tuy nhiên, tại Giấy vay nợ ngày 19/01/2022, có chữ ghi tên B và Lã Hữu B, mặc dù ông B từ chối cho rằng ông B chưa từng ký vào bất kỳ giấy vay mượn nợ nào nhưng ông B và bà T4 cùng kinh doanh may và bán nón vải, mục đích vay tiền của bà T4 để kinh doanh làm ăn, ông T cũng là người kinh doanh mặt hàng nón vải nên quen biết tin tưởng và đã cho bà T4 vay mượn tiền nhiều lần. Hiện nay, ông Lã Hữu B vẫn còn giữ liên lạc được qua điện thoại với bà Nguyễn Thị Tuyết . Do đó, việc vay tiền của bà T4 với ông T có mục đích để kinh doanh nón vải nhằm thu lợi nhuận đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu của gia đình của ông B với bà T4 nên theo quy định tại Khoản 1 Điều 25; Điều 27; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015 thì ông Lã Hữu B phải có trách nhiệm liên đới thanh toán tiền nợ của bà Nguyễn Thị T2 đối với ông Bùi Xuân T là có căn cứ pháp luật.

Căn cứ vào các khoản 1 Điều 25;Điều 27; 30; 37; 59 và 60 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2015: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Lã Hữu B có trách nhiệm liên đới với Bị đơn để thanh toán cho Nguyên đơn, cụ thể : nợ gốc là: 980.000.000 (Chín trăm tám mươi triệu) đồng, yêu cầu trả nợ tiền lãi : 980.000.000 x 20 tháng (từ ngày 14/11/2022 đến 16/7/2024) x 0.8%/tháng = 156.800.000 đồng; tổng số tiền bà T2 phải trả ông T, là: 980.000.000 đồng + 156.800.000 đồng = 1.136.800.000 đồng. (bằng chữ: một tỷ một trăm ba mươi sáu triệu tám trăm nghìn đồng).

Căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì yêu cầu mà Đại diện ủy quyền Nguyên đơn xin rút yêu cầu trong Đơn khởi kiện tại phiên tòa xét xử: Khi bà Nguyễn Thị T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì ông T có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự xử lý tài sản có liên quan tới quyền tài sản của bà Nguyễn Thị T2 để thu hồi nợ theo pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị đơn và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – ông Lã Hữu B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26; 35; 39; 147; 227; 228 ; 244 và 273 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 351;357;385;404;463;466;468 và 470 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ các Khoản 1 Điều 25;Điều 27;30;37;59 và 60 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2015;

Căn cứ Luật về án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH14;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – ông Bùi Xuân T.
  2. Buộc Bị đơn – bà Nguyễn Thị T2 và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – ông Lã Hữu B liên đới thanh tóan cho Nguyên đơn – ông Bùi Xuân T số tiền đã vay mượn chưa trả là: 980.000.000 (Chín trăm tám mươi triệu) đồng, nợ lãi phải trả là: 980.000.000 x 20 tháng (từ ngày 14/11/2022 đến 16/7/2024) x 0.8%/tháng = 156.800.000 đồng ; tổng số tiền bà T2 và ông B phải trả ông T, là: 980.000.000 đồng + 156.800.000 đồng = 1.136.800.000 đồng. (bằng chữ: một tỷ một trăm ba mươi sáu triệu tám trăm nghìn đồng). Bà Nguyễn Thị T2 và ông Lã Hữu B phải trả nợ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  3. Nguyễn Thị T2 và ông Lã Hữu B còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 17/7/2024 với mức lãi suất: 0,8%/tháng đến ngày bà Nguyễn Thị T2 và ông Lã Hữu B trả hết nợ cho ông Bùi Xuân T theo quyết định (bản án) của Tòa án.
  4. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn: Khi bà Nguyễn Thị T2 và ông Lã Hữu B không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì ông Bùi Xuân T có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự xử lý tài sản có liên quan tới quyền tài sản của bà Nguyễn Thị T2 và ông Lã Hữu B để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
  5. Việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán tại cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị T2 và ông Lã Hữu B phải chịu là: 46.104.000 (Bốn mươi sáu triệu một trăm lẻ bốn ngàn) đồng.
  7. Hoàn trả cho ông Bùi Xuân T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 22.317.000 (Hai mươi hai triệu ba trăm mười bảy ngàn) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0030820 ngày 18/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12.

  8. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
  9. Quyền kháng cáo:
  10. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

- VKSND Quận 12, Tp . HCM;

- Chi cục THADS Quận 12, Tp. HCM;

- Các đương sự;

- Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Diễm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 395/2024/DS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 395/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger