TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 395/2024/HS-PT
Ngày: 19 – 8 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Huân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thị Nam
2. Ông Phạm Văn Hải
- Thư ký Tòa phiên tòa: Ông Cao Minh Quốc Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hoàng Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa trực tuyến, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 488/2024/HSST, ngày 27 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4437/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Phan Văn C cùng đồng phạm, bị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Phiên tòa được tiến hành tại 02 điểm cầu, điểm cầu trung tâm tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh - Số A đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Điểm cầu thành phần tại phòng xử án tại Trại tạm giam C (T30) thuộc Công an Thành phố H.
Tại điểm cầu Trung tâm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công H
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thị N
2. Ông Phạm Văn H1
- Thư ký Tòa phiên tòa: Ông Cao Minh Quốc B – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hoàng N1 - Kiểm sát viên.
Người bào chữa:
- Ông Nguyễn Năng Q là Luật sư của Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Phan Văn C – Có mặt
- Ông Nguyễn Quang T là luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Lê Anh D – Có mặt
- Bà Võ Thị Trúc T1 là luật sư của Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Trần Văn C1 – Có mặt.
Tại điểm cầu thành phần gồm có:
Các bị cáo:
- Phan Văn C; Sinh ngày: 11/9/1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: Số A, đường B, Phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Hoàng A và bà: Phan Thị Ngọc T2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- + Ngày 22/9/2005, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận D2, Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định đưa vào trường G, Bộ C2 về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 26/9/2007, chấp hành xong quyết định.
- + Ngày 21/5/2009, bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/02/011 và đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm.
- + Ngày 06/11/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận D2, Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm G1 đến ngày 13/6/2014 chuyển đến Cơ sở cai nghiện ma túy Bố Lá chấp hành về hành vi sử dụng chất ma túy, thời hạn 24 tháng. Ngày 14/11/2014, chấp hành xong quyết định.
- + Ngày 30/11/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm G1, thời hạn 21 tháng. Ngày 01/5/2017, chấp hành xong quyết định.
- Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/11/2023 – Có mặt
- Lê Anh D; Sinh ngày: 17/8/1994, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: Số B lầu B, Lô A, Chung cư L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Khu phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Văn N2 và bà: Vũ Thị Lệ T3; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, tiền án: Không;
Nhân thân:
Ngày 12/6/2017, bị Công an P1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau gây rối trật tự công cộng” đã thi hành xong quyết định.
- Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/11/2023 – Có mặt
- Trần Văn C1; Sinh ngày: 10/12/1984, tại tỉnh Long An; Nơi đăng ký thường trú: khu phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An; Chỗ ở: P, khách sạn Đ1, địa chỉ ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc
tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Mi Văn B1 và bà: Trần Thị T4; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/11/2023 – Có mặt
Người tham gia tố tụng khác:
Ông Trần Quốc B2, ông Trần Hà Gia H2, ông Phạm Vinh Q1 - Cán bộ trại tạm giam T30 thuộc Công an thành phố H - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/11/2023, Công an huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng Công an xã P, huyện B, kiểm tra hành chính khách sạn B3, địa chỉ 1337, Quốc lộ E, ấp E, xã P, huyện B. Qua kiểm tra phòng 103 của khách sạn, phát hiện Phan Văn C cầm trên tay phải 49,3506 gam ma túy thể rắn, loại Methamphetamine đang bán cho Lê Anh D với giá 17.000.000 đồng, nên đưa cả hai về trụ sở Công an xã P, huyện B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 61, 62).
Lúc 23 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện B khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Anh D, tại địa chỉ nhà không số, Khu phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An thu giữ 01 cân điện tử, 20 gói ny lon rỗng, không chứa gì, 01 ống hút nhựa cắt nhọn hai đầu, 01 kéo bằng kim loại (BL 127, 128).
Lúc 23 giờ 40 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện B khám xét khẩn cấp nơi ở của Phan Văn C, địa chỉ A, đường B, Phường F, Quận D, kết quả không thu giữ vật chứng liên quan đến vụ án (BL 121, 122).
Lúc 03 giờ 40 phút ngày 10/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện B khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn C1, tại phòng 304, khách sạn Đ1, địa chỉ ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An thu giữ 0,5607 gam ma túy ở thể thể rắn, loại Methamphetamine, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 hộp quẹt ga nên tiến hành ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (BL 132, 133).
Vật chứng là ma túy thu giữ của Phan Văn C, Trần Văn C1 đã được giám định theo Kết luận giám định số 12670/KL-KTHS ngày 17/11/2023 của Phòng K Công an Thành phố H (BL139).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phan Văn C, Lê Anh D và Trần Văn C1 đã khai nhận phù hợp nhau về việc thực hiện hành vi mua bán ma túy bắt đầu từ tháng 10/2023 đến ngày 09/11/2023, C 04 lần mua ma túy của người tên P (chưa rõ lai lịch), mỗi lần có giá từ 3.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng và C đem bán lại cho D. Trong đó, lần thứ 4 vào ngày 09/11/2023 khi C và D đang thực hiện trao đổi mua bán 50 gam ma túy đá thì bị Công an phát hiện bắt quả tang như trên. Sau khi mua được ma túy từ C, D đem cất giấu và bán cho nhiều người nghiện ma túy, cụ thể bán 01 gói ma túy đá, khoảng 250 số (25 gam ma túy đá), với giá 9.500.000 đồng cho người phụ nữ tên M ở khu vực Quận D vào khoảng đầu tháng
10/2023; ngày 05/11/2023, bán cho người tên Đ 01 gói ma túy đá, giá 9.500.000 đồng tại khách sạn B3 và bán cho Trần Văn C1 02 lần, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào khoảng đầu tháng 11/2023, D bán 01 gói ma túy đá, giá 200.000 đồng cho C1 tại khách sạn Đ1, địa chỉ xã T, huyện C, tỉnh Long An;
Lần thứ hai: khoảng 16 giờ 00 phút ngày 09/11/2023, D bán 01 gói ma túy đá, giá 800.000 đồng cho C1 và nhận 600.000 đồng, C1 nợ lại 200.000 đồng tại khách sạn Đ1. Chơn mua ma túy của D được 02 lần đều để sử dụng tại khách sạn Đ1. Việc mua bán ma túy giữa D với C1 và các đối tượng khác được thực hiện bằng hình thức giao nhận và thanh toán tiền trực tiếp với nhau (BL169, 174 đến 180; 199 đến 213; 231 đến 241).
Đối với đối tượng có tên P là người bán ma túy cho Phan Văn C, các đối tượng Đ, M và D1 là những người mua của Lê Anh D, do các bị cáo C, D khai không biết nhân thân lai lịch, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, chưa đủ căn cứ điều tra làm rõ. Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ được các đối tượng nêu trên sẽ đưa ra xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn T5 là chủ khách sạn B3, Trần Huỳnh T6 là quản lý khách sạn B3, Đặng Thị Thu T7 là chủ nhà nghỉ Đ2, Nguyễn Văn T8 là quản lý nhà nghỉ Đ2, do không biết Phan Văn C, Lê Anh D và Trần Văn C1 thuê phòng để mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ để xử lý (BL 257 đến 272).
Đối với các tài khoản Zalo, M1 và các số điện thoại liên quan, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có văn bản yêu cầu gửi các đơn vị có liên quan cung cấp thông tin, dữ liệu để làm rõ nhưng chưa có kết quả, sẽ xem xét xử lý sau khi có căn cứ (BL 273 đến 277).
Đối với hành vi cất giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: 01 nỏ thủy tinh, 01 chai nhựa và 01 ống hút nhựa của Trần Văn C1. C1 khai mua của người tên D1 không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ bán. Do Chơn chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy và chưa đủ số lượng 06 đơn vị dụng cụ, phương tiện nên không đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 254 Bộ luật Hình sự.
Vật chứng của vụ án:
- Vật chứng là ma túy thu giữ của các bị can đã được niêm phong sau giám định gồm 01 gói niêm phong ghi vụ số 12670(2449/22), bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Lê Thị H3 và Cán bộ điều tra Nguyễn Anh T9, bên trong là mẫu còn lại sau giám định.
- Thu giữ của Phan Văn C:
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, số Imei: 860671053650096, kèm theo số thuê bao 0937.137.705;
- - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, Vario, biển số 59CA - 030.63. Kết quả điều tra xác định số khung, số máy không thay đổi, do Phan Văn C đứng tên sở hữu, C dùng làm phương tiện phạm tội (BL 281, 322).
- Thu giữ của Lê Anh D:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone; số Imei: 353104100971665, kèm theo số thuê bao 0934322215;
- - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, W, biển số 85D1-597.63. Kết quả điều tra xác định số khung, số máy không thay đổi, xe do Phạm Anh T10, sinh năm 2002, địa chỉ: T, P, N, Ninh Thuận đứng tên chủ sở hữu. Xác minh, hiện T10 không có mặt tại địa phương, gia đình đã bán nhà đi đâu không rõ. D khai mượn xe của người bạn tên T11 (không rõ lai lịch) để sử dụng, T11 không biết D mượn xe làm phương tiện phạm tội. (BL 210, 282 đến 287);
- - Số tiền 8.000.000 đồng, D khai là tiền dùng vào việc mua ma túy của Phan Văn C, đã được nộp vào tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tại Kho bạc Nhà nước Q2 (BL 320);
- - 01 (một) cân điện tử, 20 (hai mươi) túi nylon rỗng không chứa gì, 01 (một) ống hút nhựa một đầu cắt nhọn, 01 (một) kéo bằng kim loại là dụng cụ D dùng vào việc mua bán ma túy.
- Thu giữ của Trần Văn C1:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu VSMART, số Imei: 358877980474992, kèm theo số thuê bao 0901665918;
- - 01 (một) hộp quẹt ga, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Tại bản Cáo trạng số 371/CT-VKS-P1 ngày 24/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Các bị cáo Phan Văn C, Lê Anh D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Trần Văn C1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên Tòa:
- Các bị cáo Phan Văn C, Lê Anh D, Trần Văn C1 đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng cả 03 bị cáo bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu lời luận tội giữ nguyên quan điểm như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Căn cứ điểm b khoản 3 khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn C từ 16 đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng;
- + Căn cứ điểm b khoản 3 khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Anh D từ 16 đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng;
- + Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn C1 từ 01 đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn.
- Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn C, trình bày quan điểm bào chữa như sau: Thống nhất với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo C. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mất sớm nên bị cáo thiếu sự chăm sóc dạy dỗ của cha; bị cáo có học vấn thấp, nhận thức pháp luật hạn chế, phải ra đời kiếm sống mưu sinh sớm nên bị kẻ xấu lôi kéo lợi dụng; có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề xuất là quá nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng hình phạt khoan hồng nhất.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Anh D, trình bày quan điểm bào chữa như sau: Thống nhất với bản cáo trạng về tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo D. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm 03 vấn đề sau: Khối lượng ma túy bị cáo phải chịu trách nhiệm là 49,9113g Methamphetamine ở mức thấp so với khung hình phạt quy định; chỉ có lời khai của bị cáo ngoài ra không còn chứng cứ gì khác về việc bị cáo mua bán ma túy nhiều lần, nên đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” đối với bị cáo; bị cáo học vấn thấp nên hiểu biết về pháp luật hạn chế, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất trong khung hình phạt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn C1, trình bày quan điểm bào chữa như sau: Không có ý kiến về tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo C1. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tranh luận đối đáp với các Luật sư:
Về tội danh và khung hình phạt đối với các bị cáo C, D, C1 do các Luật sư bào chữa cho các bị cáo đều thống nhất với bản Cáo trạng, nên Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến. Về các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, như Luật sư bào chữa cho các bị cáo C, D, C1 đề nghị áp dụng cho các bị cáo thì Đại diện Viện kiểm sát cũng đã đề cập, nên không còn ý kiến gì khác.
Riêng đối với đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo C1 về việc cho bị cáo C1 được hưởng án treo là không có cơ sở chấp nhận, bởi vì hành vi phạm tội của bị cáo là mối nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm. Lời khai của các bị cáo C, D tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, qua đó thể hiện D đã mua ma túy của C nhiều lần về để bán lại kiếm lời, là tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”, nên không chấp nhận đề nghị về việc không áp dụng tình tiết
tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự của Luật sư bào chữa cho bị cáo D.
Sau khi tranh luận đối đáp các bên vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét thấy lời khai của các bị cáo Phan Văn C, Lê Anh D, Trần Văn C1 tại phiên tòa, phù hợp với nhau, với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, qua đó đã có đủ cơ sở xác định: Phan Văn C và Lê Anh D là bạn bè, quen biết nhau từ tháng 04/2023. Biết D có nhu cầu mua ma túy nên C mua ma túy của người tên P không rõ lai lịch để bán lại cho D. Từ tháng 10/2023 đến ngày 09/11/2023, C đã 04 lần mua ma túy của P, mỗi lần mua từ 3.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để bán lại cho D được 04 lần. Sau khi mua được ma túy từ C, D đem cất giấu và bán cho nhiều người nghiện ma túy như: vào đầu tháng 10/2023 bán 01 gói khoảng 25 gam ma túy đá, cho người phụ nữ tên M ở khu vực Quận D; ngày 05/11/2023 bán cho người tên Đ 01 gói ma túy đá tại khách sạn B3 và bán cho Trần Văn C1 02 lần, lần đầu vào khoảng đầu tháng 11/2023 D bán 01 gói ma túy đá, giá 200.000 đồng cho C1 tại khách sạn Đ1, lần thứ hai vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 09/11/2023, cũng tại khách sạn Đ1, D bán cho C1 01 gói ma túy đá, giá 800.000 đồng. Ngày 09/11/2023 C và D hẹn nhau tại khách sạn B3 để mua bán ma túy. Khi cả hai đang thực hiện trao đổi mua bán 49,3506gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Đến 03 giờ 40 phút ngày 10/11/2023, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn C1 tại phòng 304 khách sạn Đ1, phát hiện thu giữ 0,5607gam Methamphetamine Chơn mua của D, đang cất giữ để sử dụng.
Toàn bộ số ma túy thu giữ của các bị cáo được giám định tại Bản kết luận giám định số 12670/KL-KTHS ngày 17/11/2023 của Phòng K Công an Thành phố H.
Xét thấy: Vì động cơ tư lợi, bị cáo Phan Văn C đã nhiều lần mua ma túy từ đối tượng không rõ lai lịch để bán lại cho bị cáo Lê Anh D nhiều lần. Sau khi mua ma túy của C, D đem về cất giấu và bán cho nhiều người nghiện ma túy, trong đó bán cho Trần Văn C1 02 lần, lần đầu vào đầu tháng 11/2023 và lần thứ hai vào
khoảng 16 giờ 00 phút ngày 09/11/2023 tại khách sạn Đ1, D bán cho C1 01 gói ma túy đá, giá 800.000 đồng. Ngày 09/11/2023 Công an phát hiện bắt quả tang C và D đang mua bán 49,3506gam Methamphetamine. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn C1 tại phòng 304 khách sạn Đ1, phát hiện thu giữ 0,5607gam Methamphetamine và các dụng cụ sử dụng ma túy của C1 cất giấu để sử dụng. Nên đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Phan Văn C, Lê Anh D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Trần Văn C1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên tòa, các Luật sư bào chữa cho các bị cáo Phan Văn C, Lê Anh D, Trần Văn C1 thống nhất với bản Cáo trạng về tội danh, khung hình phạt áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp.
Hành vi phạm tội của các bị cáo Phan Văn C, Lê Anh D là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo của Trần Văn C1 là nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội, mặt khác nó còn là nguyên nhân làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng, là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo biết rõ ma túy là một loại tệ nạn xã hội, hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi và nhu cầu bất chính của bản thân, nên các bị cáo vẫn cố ý phạm tội.
Đây là vụ án có nhiều người tham gia, tuy nhiên mỗi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách độc lập, giữa các bị cáo không có sự thống nhất ý chí cùng thực hiện hành vi phạm tội, nên không có đồng phạm, mỗi bị cáo phải chịu trách nhiệm tương ứng với tính chất mức độ hành vị phạm tội của từng bị cáo đã thực hiện;
Về nhân thân: Các bị cáo Phan Văn C, Lê Anh D là những người có nhân thân xấu.
- Bị cáo Phan Văn C:
- + Ngày 22/9/2005, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận D2, Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định đưa vào trường G, Bộ C2 về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 26/9/2007, chấp hành xong quyết định;
- + Ngày 21/5/2009, bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/02/011 và đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm;
- + Ngày 06/11/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận D2, Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm G1 đến ngày 13/6/2014 chuyển đến Cơ sở cai nghiện ma túy Bố Lá chấp hành về hành vi sử dụng chất ma túy, thời hạn 24 tháng. Ngày 14/11/2014, chấp hành xong quyết định;
- + Ngày 30/11/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm G1, thời hạn 21 tháng. Ngày 01/5/2017, chấp hành xong quyết định;
- Bị cáo Lê Anh D:
Ngày 12/6/2017, bị Công an P1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau gây rối trật tự công cộng” đã thi hành xong quyết định.
Mặc dù các tiền án tiền sự trên đã được xóa, nhưng cũng là điều cần lưu ý khi lượng hình đối với các bị cáo.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo Phan Văn C, Lê Anh D, Trần Văn C1, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.
- Về tình tiết tăng nặng:
Xét lời khai của các bị cáo C, D, C1 tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác, qua đó thể hiện từ tháng 10/2023 đến ngày 09/11/2023, C 04 lần mua ma túy của người tên không rõ lai lịch, sau đó bán lại cho D 04 lần. Sau khi mua được ma túy từ C, D đem cất giấu và bán cho nhiều người nghiện ma túy, cụ thể bán người phụ nữ tên M ở khu vực Quận D, bán cho người tên Đ tại khách sạn B3 và bán cho Trần Văn C1 02 lần. Hành vi của các bị cáo Phan Văn C, Lê Anh D, thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, nên cần phải áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phan Văn C, Lê Anh D. Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Anh D đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo D là không có căn cứ để chấp nhận.
Đối với bị cáo Trần Văn C1, do ngoài lời khai của các bị cáo không có tài liệu chứng cứ gì khác thể hiện loại, khối lượng ma túy bị cáo C1 đã mua để sử dụng trước đó, nên không có cơ sở xử lý bị cáo về hành vi “Phạm tội 02 lần trở lên".
- Về các tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy đề nghị của Luật sư bào chữa cho các bị cáo và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cơ bản là thống nhất với nhau và có cơ sở, nên chấp nhận. Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo Phan Văn C, Lê Anh D, Trần Văn C1 theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo Phan Văn C, Lê Anh D, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, phạt mỗi bị cáo một khoản tiền, nộp vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo Trần Văn C1 có hoàn
cảnh khó khăn, không thu lợi từ hành vi phạm tội, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo C1.
[3] Đối với đối tượng có tên P là người bán ma túy cho Phan Văn C, các đối tượng Đ, M là những người mua của Lê Anh D, do các bị cáo C, D khai không biết nhân thân lai lịch, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, chưa đủ căn cứ điều tra làm rõ. Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ được các đối tượng nêu trên sẽ đưa ra xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn T5 là chủ khách sạn B3, Trần Huỳnh T6 là quản lý khách sạn B3, Đặng Thị Thu T7 là chủ nhà nghỉ Đ2, Nguyễn Văn T8 là quản lý nhà nghỉ Đ2, do không biết Phan Văn C, Lê Anh D và Trần Văn C1 thuê phòng để mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với các tài khoản Zalo, M1 và các số điện thoại liên quan, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có văn bản yêu cầu gửi các đơn vị có liên quan cung cấp thông tin, dữ liệu để làm rõ nhưng chưa có kết quả, sẽ xem xét xử lý sau khi có căn cứ.
Đối với hành vi cất giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: 01 nỏ thủy tinh, 01 chai nhựa và 01 ống hút nhựa của Trần Văn C1. C1 khai mua của người tên D1 không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ bán. Do Chơn chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy và chưa đủ số lượng 06 đơn vị dụng cụ, phương tiện nên không đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 254 Bộ luật Hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng:
Vật chứng của vụ án gồm có:
- - 01 gói niêm phong ghi vụ số 12670(2449/22), bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Lê Thị H3 và Cán bộ điều tra Nguyễn Anh T9, bên trong là mẫu còn lại sau giám định. Là vật cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với: 01 (một) cân điện tử; 20 (hai mươi) túi nylon rỗng không chứa gì; 01 (một) ống hút nhựa một đầu cắt nhọn; 01 (một) kéo bằng kim loại; 01 (một) hộp quẹt ga, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Là những vật không còn giá trị, nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, số Imei: 860671053650096, kèm theo số thuê bao 0937.137.705 thu giữ của Phan Văn C; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone; số Imei: 353104100971665, kèm theo số thuê bao 0934322215 thu giữ của Lê Anh D; 01 (một) điện thoại di động hiệu VSMART, số Imei: 358877980474992, kèm theo số thuê bao 0901665918 thu giữ của Trần Văn C1. Các bị cáo khai có dùng liên lạc với nhau để mua bán tàng trữ trái phép chất ma túy; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, V, biển số 59CA - 030.63 do Phan Văn C là chủ sở hữu, C khai là xe của bị cáo mua để làm phương tiện đi
lại, có dùng làm phương tiện đi mua bán ma túy. Đây là những công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- + Đối với số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu) Việt Nam đồng, D khai là tiền dùng vào việc mua ma túy về bán lại. Là phương tiện dùng vào việc phạm tội, nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- + Đối với: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, W, biển số 85D1-597.63 Kết quả điều tra xác định số khung, số máy không thay đổi, xe do Phạm Anh T10, sinh năm 2002, địa chỉ: T, P, N, Ninh Thuận đứng tên chủ sở hữu. Xác minh, hiện T10 không có mặt tại địa phương, gia đình đã bán nhà đi đâu không rõ. D khai mượn xe của người bạn tên T11 (không rõ lai lịch) để sử dụng, T11 không biết D mượn xe làm phương tiện phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã gửi công văn đề nghị Báo Công an Thành phố H đăng B4 chủ sở hữu, hiện chưa có ai đến liên hệ.
Xét thấy chiếc xe mô tô hiệu Honda Winner, biển số 85D1-597.63, là phương tiện dùng vào việc phạm tội, hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, nên tiếp tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn nhất định, nếu không có chủ sở hữu hợp pháp đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Quá trình mua bán ma túy bị cáo Phan Văn C khai nhận thu lợi được khoảng 1.500.000 đồng, bị cáo Lê Anh D thu lợi được khoảng 1.000.000 đồng. Đây là tài sản do phạm tội mà có nên buộc các bị cáo nộp lại, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[5] Án phí: Các bị cáo cáo Phan Văn C, Lê Anh D, Trần Văn C1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[6] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về hình phạt:
- Căn cứ điểm b khoản 3 khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Phan Văn C 17 (mười bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam 10/11/2023. Phạt bổ sung bị cáo Phan Văn C số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ điểm b khoản 3 khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lê Anh D 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam 10/11/2023. Phạt bổ sung bị
cáo Lê Anh D số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Văn C1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam 11/11/2023.
[2] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ các Điều 46; 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Buộc các bị cáo: Phan Văn C nộp lại 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng; Lê Anh D nộp lại 1.000.000 (một triệu) đồng, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) gói giấy có ghi vụ số 12670(2449/22) gói 1 được niêm phong sau giám định có chữ ký của Giám định viên Lê Thị H3 và Cán bộ điều tra Nguyễn Anh T9, bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định;
- + 01 (một) gói giấy có ghi vụ số 12670(2449/22) gói 2 được niêm phong sau giám định có chữ ký của Giám định viên Lê Thị H3 và Cán bộ điều tra Nguyễn Anh T9, bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định;
- + 01 (một) cân điện tử, 20 (hai mươi) túi nylon rỗng không chứa gì, 01 (một) ống hút nhựa một đầu cắt nhọn, 01 (một) kéo bằng kim loại; 01 (một) hộp quẹt ga, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước:
- + 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, số Imei: 860671053650096, kèm theo số thuê bao 0937.137.705 thu giữ của Phan Văn C (thực nhận 01 (một) điện thoại di động VIVO màu xanh đen, không kiểm tra đời máy, I, thuê bao do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 353104100971665, kèm theo số thuê bao 0934322215 thu giữ của Lê Anh D (thực nhận 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, Imei khay sim: 353104100971665, không kiểm tra đời máy, I, số do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (một) điện thoại di động hiệu VSMART, số Imei: 358877980474992, kèm theo số thuê bao 0901665918 thu giữ của Trần Văn C1 (pin phù, lưng bung, không kiểm tra đời máy, I, số thuê bao do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
- + Số tiền 8.000.000 (tám triệu) Việt Nam đồng;
- + 01 (một) xe hai bánh gắn máy nhãn hiệu Honda Vario, biển số 59CA - 030.63, số khung: SK: MH1JMD114PK242192, số máy: JMD1E-1242309 (không gương, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra).
- Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 năm, nếu không có chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe hai bánh gắn máy hiệu H4, Winner X, biển số 85D1-597.63, số khung: RLHKC3713LY033032, số máy: KC34E-1153160 (không gương, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra) đến nhận thì chiếc xe trên được tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
(Các vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/428, ngày 09/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự TP . Hồ Chí Minh).
Riêng số tiền 8.000.000 (tám triệu) Việt Nam đồng, hiện đang được gửi giữ tại Kho bạc Nhà nước Quận A, theo giấy nộp tiền vào tài khoản số 39490905977500000 ngày 25/3/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H nộp tại kho bạc nhà nước Q2).
[3] Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Buộc các bị cáo Phan Văn C, Lê Anh D, Trần Văn C1, mỗi bị cáo nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo:
Căn cứ khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
Các bị cáo Phan Văn C, Lê Anh D, Trần Văn C1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Huân |
Bản án số 395/2024/HS-PT ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy; tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 395/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn Cường và đồng phạm Mua bán trái phép chất ma túy
