Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 395/2024/HC-PT

Ngày 14 - 5 - 2024

V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính,

hành vi hành chính về bồi thường,

hỗ trợ khi thu hồi đất”.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đức Phương.

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Duyên.

Ông Hà Huy Cầu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Phước Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 36/2024/TLPT-HC ngày 12/01/2024 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 56/2023/HC-ST ngày 10 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 492/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Bà Trịnh Thị L, sinh năm 1958 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố C, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang

Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị Kiều M, sinh năm 1994 (có mặt)

Địa chỉ: đường C, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Theo văn bản ủy quyền ngày 07/3/2022).

Người bị kiện: Ủy ban nhân thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Quang H; chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Lê Quốc T; chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P (Theo văn bản ủy quyền ngày 14/3/2024 - vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: Ông Trương

1

Quốc T1; chức vụ: Trưởng ban Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố P (có mặt)

Địa chỉ: Số D, đường C, khu phố B, thị trấn D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Người kháng cáo: Người bị kiện, Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, người khởi kiện, bà Trình Thị L1 và người đại diện hợp pháp trình bày:

Để thực hiện Dự án đường vòng quanh đảo đoạn A - C tại thị trấn A (nay là phường A), xã D, huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang. Ngày 13/09/2013, UBND huyện P ban hành Quyết định số 4242/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của gia đình bà với diện tích 5.728,50m². Nhưng UBND huyện P chỉ bồi thường, hỗ trợ diện tích đất 676m² (đất trồng cây lâu năm) còn lại diện tích đất 5.052,5m² (đất rừng phòng hộ) không bồi thường, hỗ trợ cho bà.

Bà L1 không đồng ý nên đã khiếu nại việc bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích 5.052,5m². Ngày 28/5/2018, UBND huyện P ban hành Quyết định số 1724/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Quyết định số 4242/QĐ-UBND ngày 13/9/2013, có nội dung điều chỉnh “Phần diện tích 5.052,5m² loại đất rừng phòng hộ điều chỉnh thành loại đất trồng cây lâu năm”. Ngày 08/5/2018, UBND huyện P ban hành Quyết định số 1630/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bổ sung bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu quy hoạch xây dựng đường Vòng quanh đảo P đoạn A-C. Ngày 25/7/2018, UBND huyện P ban hành Quyết định số 2208/QĐ-UBND về việc bồi thường diện tích 2.401,9m² với tổng số tiền 216.981.000 đồng và Quyết định số 2211/QĐ-UBND về việc hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm diện tích 2.401,9m² với tổng số tiền 403.218.000 đồng.

Bà L1 cho rằng việc UBND huyện P bồi thường, hỗ trợ cho gia đình bà là chưa đúng, đủ theo quy định của pháp luật nên tiếp tục khiếu nại. Ngày 22/11/2019, Chủ tịch UBND huyện P ban hành Quyết định số 5411/QĐ-UBND có nội dung:

  1. Thống nhất bổ sung Quyết định số 2208/QĐ-UBND và Quyết định số 2211/QĐ-UBND ngày 25/7/2018 của UBND huyện về việc bổ sung bồi thường, hỗ trợ và tái định cho bà Trịnh Thị L. Nội dung bổ sung: Bồi thường quyền sử dụng đất diện tích 2.410,9m² theo giá đất tại thời điểm bồi thường; nâng giá hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng giá đất UBND tỉnh K theo Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 nhân với hệ số điều chỉnh đối với diện tích 2.410,9m² đất cho bà Trịnh Thị L theo quy định.
  2. Giao Ban bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện phối hợp với các cơ quan chuyên môn lập phương án điều chỉnh bồi thường bổ sung quyền sử dụng đất diện tích 2.410,9m² theo giá đất tại thời điểm bồi thường; nâng giá hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng giá đất UBND tỉnh K theo Quyết

2

định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 nhân với hệ số điều chỉnh đối với diện tích 2.410,9m² đất cho bà Trịnh Thị L theo quy định.

Ngày 18/12/2020, UBND huyện P ban hành Quyết định số 6950/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bổ sung bồi thường, hỗ trợ về đất đai, cây trồng, vật kiến trúc, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm dự án đường vòng quanh đảo P đoạn A-C tại thị trấn A và xã D, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Ngày 22/4/2021, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 1743/QĐ-UBND về việc bổ sung bồi thường về đất đai, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho bà, có nội dung: Bồi thường về đất với số tiền 3.939.410.600 đồng, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm với số tiền 134.406.000 đồng và ngày 14/5/2021 thì bà L nhận tiền bồi thường, hỗ trợ.

Bà L cho rằng, việc bồi thường, hỗ trợ trên là chưa đúng, đủ theo quy định của pháp luật, cụ thể:

Thứ nhất, UBND thành phố P không hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất cho gia đình bà.

Thứ hai, ngày 28/5/2018, UBND huyện P ban hành Quyết định số 1724/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Quyết định số 4242/QĐ-UBND ngày 13/9/2013, có nội dung điều chỉnh: “Phần diện tích 5.052,5m² loại đất rừng phòng hộ điều chỉnh thành loại đất trồng cây lâu năm” thì diện tích đất của bà đã tiếp giáp mặt tiền đường (đã hình thành con lộ nhựa đoạn A-C). Theo Quyết định số 106/QĐ-UBND ngày 15/01/2020 của UBND tỉnh K thì diện tích đất 2.410,9m² là vị trí 1 nhưng UBND thành phố P xét hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm tại vị trí 2. Như vậy là chưa phù hợp, bỏ sót các quy định pháp luật có liên quan.

Thứ ba, toàn bộ diện tích đất 2.410,9m² đủ điều kiện hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm nhưng UBND thành phố P chỉ hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm diện tích 1.493,4m² còn lại 917,5m² không hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 14, Quyết định số 22/2015/QĐ-UBND ngày 17/6/2015 của UBND tỉnh K thì hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp quy định khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm như sau: Hỗ trợ bằng tiền bằng 03 lần giá đất nông nghiệp cùng loại theo bảng giá đất do UBND tỉnh quy định nhân với hệ số điều chỉnh (nếu có) đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi; diện tích được hỗ trợ không vượt quá 02 hecta. Như vậy, việc UBND thành phố P không hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm (nhân 03 lần giá đất) đối với diện tích đất 917,5m² là không đúng, ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình bà.

Thứ tư, ngày 18/12/2020, UBND huyện P ban hành Quyết định số 6950/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bổ sung bồi thường, hỗ trợ về đất đai, cây trồng, vật kiến trúc, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm dự án đường vòng quanh đảo P đoạn A-C tại thị trấn A và xã D, huyện P, tỉnh

3

Kiên Giang thì UBND thành phố P căn cứ Quyết định 35/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 để tính giá đất hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm. Nhưng tại thời điểm phê duyệt phương án theo Quyết định số 6950/QĐ-UBND thì Quyết định 35/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 đã hết hiệu lực và được thay thế bởi Quyết định số 03/2020/QĐ-UBND ngày 13/01/2020 của UBND tỉnh K về việc ban hành quy định bảng giá đất giai đoạn 2020-2024 trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

Thứ năm, UBND thành phố P chưa nhân hệ số điều chỉnh để tính tiền hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với diện tích 2.410,9m² cho gia đình bà. Căn cứ Quyết định số 5411/QĐ-UBND ngày 22/11/2019 của Chủ tịch UBND huyện P, co nội dung: “Thống nhất bổ sung Quyết định số 2208/QĐ-UBND và Quyết định số 2211/QĐ-UBND ngày 25/7/2018 của UBND huyện về việc bổ sung bồi thường, hỗ trợ và tái định cho bà Trịnh Thị L.……… nhân với hệ số điều chỉnh đối với diện tích 2.410,9m² đất cho bà Trịnh Thị L theo quy định”. Nhưng khi ban hành Quyết định số 1743/QĐ-UBND ngày 22/4/2021 thì UBND thành phố P không nhân hệ số điều chỉnh để tính tiền hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với diện tích 2.410,9m² cho bà.

Thứ sáu, ngày 18/12/2020, UBND huyện P ban hành Quyết định số 6950/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bổ sung bồi thường, hỗ trợ về đất đai, cây trồng, vật kiến trúc, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm dự án đường vòng quanh đảo P đoạn A-C tại thị trấn A và xã D, huyện P, tỉnh Kiên Giang nhưng đến ngày 14/5/2021 thì mới tổ chức chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ.

Căn cứ quy định tại khoản 2, Điều 93, Luật Đất đai năm 2013 về chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: “Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả”. Như vậy, khi ban hành Quyết định số 1743/QĐ-UBND ngày 22/4/2021 về việc bổ sung bồi thường về đất đai, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho bà L thì UBND thành phố P cần phải tính thêm tiền lãi chậm trả cho bà theo quy định.

Từ các vấn đề nêu trên, việc UBND thành phố P ban hành Quyết định số 1743/QĐ-UBND ngày 22/4/2021 về việc bổ sung bồi thường về đất đai, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho bà L là chưa phù hợp với các quy định của pháp luật; bỏ sót việc áp dụng các quy định của pháp luật có liên quan đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà.

Vì vậy, bà L yêu cầu: Hủy một phần Quyết định số 1743/QĐ-UBND ngày 22/4/2021 của UBND thành phố P về việc bổ sung bồi thường về đất đai, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho L với nội dung không bổ sung hỗ trợ ổn định đời sống; bổ sung hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với diện tích 2.410,9m² và tính tiền lãi chậm trả theo đúng quy định cho

4

bà; Buộc UBND thành phố P ban hành Quyết định mới thay thế Quyết định về việc bổ sung bồi thường về đất đai, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm bị hủy theo hướng bổ sung hỗ trợ ổn định đời sống; bổ sung hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với diện tích 2.410,9m² và tính tiền lãi chậm trả theo đúng quy định cho bà L.

Người bị kiện, Ủy ban nhân dân huyện P: Không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 56/2023/HC-ST ngày 10 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, quyết định:

Căn cứ: Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 158, Điều 173, Điều 193, Điều 194 của Luật Tố tụng hành chính; Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị L.
  2. Buộc UBND thành phố P ban hành quyết định bổ sung hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho bà Trịnh Thị L đối với diện tích 917,50m² loại đất trồng cây lâu năm, tại khu phố C, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang theo quy định pháp luật.
  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị L đối với yêu cầu buộc UBND thành phố P ban hành quyết định bổ sung hỗ trợ ổn định đời sống và tính tiền lãi chậm trả cho Trịnh Thị L.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 09/6/2023, người bị kiện UBND huyện P kháng cáo đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị L.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện cung cấp bản chính Công văn số 893/UBND-NCPC ngày 13/5/2024 về việc ý kiến nội dung liên quan đến việc kháng cáo Bản án hành chính sơ thẩm số 56/2023/HC-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang (người khởi kiện bà Trịnh Thị L) của UBND thành phố P.

Bà Trịnh Thị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày: Quyết định giải quyết khiếu nại số 5411/QĐ-UBND ngày 22/11/2019 của Chủ tịch UBND huyện P đã chấp nhận khiếu nại của bà L, theo đó, bà L phải được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm đối với diện tích 2.410,9m² nhưng UBND thành phố P chỉ xem xét diện tích 1.493,40m² là không đúng theo Quyết định giải quyết khiếu nại số 5411/QĐ-UBND. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của UBND thành phố P.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày: Đề

5

nghị Hội đồng xét xử căn cứ nội dung Công văn số 893/UBND-NCPC ngày 13/5/2024 của UBND thành phố P đã gửi tại phiên tòa để giải quyết vụ án.

Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L là có căn cứ, do tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 5411/QĐ-UBND ngày 22/11/2019 của Chủ tịch UBND huyện P thì bà L phải được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm đối với diện tích 2.410,9m² nhưng UBND thành phố P chỉ xem xét diện tích 1.493,40m² là không đúng Quyết định trên.

Ủy ban nhân dân thành phố P kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, không chấp nhận kháng cáo của UBND thành phố P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 30, Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Ủy ban nhân dân thành phố P kháng cáo theo đúng quy định nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Quá trình tố tụng, bà Trịnh Thị L đã rút một phần yêu cầu khởi kiện hủy Quyết định 1743/QĐ-UBND ngày 22/4/2023 của UBND thành phố P nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 173 Luật Tố tụng hành chính đình chỉ giải quyết vụ án đối với phần bà L đã rút yêu cầu khởi kiện là đúng quy định.

[3] Hồ sơ vụ án thể hiện:

[3.1] Ngày 13/9/2013, UBND huyện P ban hành Quyết định số 4242/QĐ-UBND có nội dung thu hồi 5.728,50m², tại khu phố C, phường A của gia đình bà L nhưng chỉ bồi thường, hỗ trợ diện tích 676m², còn lại 5.052,5m² thì không bồi thường, hỗ trợ do là đất rừng phòng hộ. Ngày 28/5/2018, UBND huyện P ban hành Quyết định số 1724/QĐ-UBND sửa đổi Quyết định số 4242/QĐ-UBND, có nội dung: “Phần diện tích 5.052,5m² loại đất rừng phòng hộ điều chỉnh thành loại đất trồng cây lâu năm”. Ngày 08/5/2018, UBND huyện P ban hành Quyết định số 1630/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bổ sung bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu quy hoạch xây dựng đường vòng quanh đảo P đoạn A-C. Ngày 25/7/2018, UBND huyện P ban hành Quyết định số 2208/QĐ-UBND về việc bồi thường quyền sử dụng đất diện tích 2.401,9m², với tổng số tiền 216.981.000 đồng và Quyết định số 2211/QĐ-UBND về việc hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm diện tích 2.401,9m², với tổng số tiền 403.218.000 đồng.

[3.2] Không đồng ý việc bồi thường, hỗ trợ nêu trên nên bà L đã khiếu nại và ngày 22/11/2019, Chủ tịch UBND huyện P ban hành Quyết định số 5411/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà L có nội dung:

6

  1. Thống nhất bổ sung Quyết định số 2208/QĐ-UBND và Quyết định số 2211/QĐ-UBND ngày 25/7/2018 của UBND huyện về việc bổ sung bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho bà Trịnh Thị L. Nội dung bổ sung: Bồi thường quyền sử dụng đất diện tích 2.410,9m² theo giá đất tại thời điểm bồi thường; nâng giá hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng giá đất UBND tỉnh K theo Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 nhân với hệ số điều chỉnh đối với diện tích 2.410,9m² đất cho bà Trịnh Thị L theo quy định.
  2. Giao Ban bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện phối hợp với các cơ quan chuyên môn lập phương án điều chỉnh bồi thường bổ sung quyền sử dụng đất diện tích 2.410,9m² theo giá đất tại thời điểm bồi thường; nâng giá hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng giá đất UBND tỉnh K theo Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 nhân với hệ số điều chỉnh đối với diện tích 2.410,9m² đất cho bà Trịnh Thị L theo quy định.

[3.3] Tại thời điểm giải quyết vụ án thì Quyết định số 5411/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND huyện P đang có hiệu lực thi hành.

[4] Như vậy, ngày 22/4/2021, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 1743/QĐ-UBND về việc bổ sung bồi thường về đất đai, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho bà L thì chỉ hỗ trợ đối với phần diện tích 1.493,40m² là chưa phù hợp với Quyết định giải quyết khiếu nại số 5411/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND thành phố P và không phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 14, Quyết định số 22/2015/QĐ-UBND ngày 17/6/2015 của UBND tỉnh K.

[5] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị L là có căn cứ. Ủy ban nhân dân thành phố P kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của UBND thành phố P, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ủy ban nhân dân thành phố P phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241, Điều 173, Điều 193, Điều 194 của Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Không chấp nhận kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố P.
  2. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm 56/2023/HC-ST ngày 10 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị L.
  4. Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành quyết định bổ sung hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho bà Trịnh Thị L đối với diện tích 917,50m² loại đất trồng cây lâu năm, tại khu phố C, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang theo quy định pháp luật.

7

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị L đối với yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành quyết định bổ sung hỗ trợ ổn định đời sống và tính tiền lãi chậm trả cho Trịnh Thị L.

6. Án phí:

6.1. Án phí sơ thẩm:

Bà Trịnh Thị L không phải chịu.

Ủy ban nhân dân thành phố P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

6.2. Án phí phúc thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0001387 ngày 21/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang, Ủy ban nhân dân thành phố P đã nộp đủ.

7. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Kiên Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP (5), HS (2) (LTTH)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Đức Phương

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 395/2024/HC-PT ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất

  • Số bản án: 395/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger