|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 394/2024/DS-PT Ngày: 24-7-2024
“V/v tranh đòi lại quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Minh Tùng; |
| Các Thẩm phán: | Ông Sỹ Danh Đạt |
| Ông Đinh Chí Tâm. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Võ Thị Trang- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 04/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 273/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 05 năm 2024 về “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2024/DS-ST ngày 28 tháng 03 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 387/2024/QĐ-PT ngày 7/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Phan Thị B, sinh năm 1947 (có mặt);
- Bà Phan Thị H, sinh năm 1944 (có mặt);
Địa chỉ: Số A, ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn:
- Bà Diệp Thanh T, sinh năm 1970 (có mặt);
- Anh Phan Phú T1, sinh năm 2007;
Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã H, huyện C, Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T là Đào Thanh N, sinh năm 1998 (có mặt);
Địa chỉ: Tổ E, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã H, huyện C, Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật của Phú T2 là bà Diệp Thanh T.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Phan Diệp T3, sinh năm 1999;
Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã H, huyện C, Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của Diệp T4 là Đào Thanh N, sinh năm 1998;
Địa chỉ: Tổ E, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
- Người kháng cáo: Bà Phan Thị B và Phan Thị H là nguyên đơn.
- Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Phan Thị H, Phan Thị B ủy quyền ông Nguyễn Mạnh K trình bày:
Cha mẹ của bà Phan Thị H và bà Phan Thị B là Ông Phan Văn C (chết năm 1965) và bà Bùi Thị T5 (chết năm 1981) chung sống có 06 con chung là: Phan Thị H, Phan Thị B, Phan Thị K1, Phan Thị N1, Phan Thị N2 và Phan Văn C1 ngoài ra không có con riêng hoặc con nuôi. Ông C và bà T5 được ông bà để lại 30 công đất vườn và ruộng. Khi còn sống bà T5 có cho bà K1 05 công đất ruộng, cho bà N1 hơn 05 công đất ruộng, cho bà N2 02 công đất ruộng. Còn bà Phan Thị B và bà Phan Thị H có được mẹ nói miệng cho mỗi người 03 công đất ruộng, tuy nhiên bà H và bà B vẫn chưa lấy đất sử dụng vì thời gian đó bà T5 còn khó khăn. Thời gian bà T5 nói cho đất thì các bà không nhớ. Sinh thời bà T5 sinh sống cùng ông C1 và canh tác đất.
Sau khi bà T5 chết các bà có yêu cầu ông C1 giao đất canh tác nhưng ông C1 nói để từ từ. Năm 1991, ông C1 xây dựng căn nhà cấp 4, vách tường mái lợp ngói, nền gạch tàu, kích thước ngang khoảng 06m x dài 11m.
Năm 1996, ông C1 đăng ký kê khai và được đứng tên diện tích đất 19.095m². Gồm thửa 495 tờ bản sồ số 8 diện tích 5.462m², thửa 497 tờ bản đồ số 8 diện tích 13.083m² và thửa 498 tờ bản đồ số 8 diện tích 550m². Năm 2014 cấp đổi thành thửa 1092 tờ bản đồ số 53 diện tích 5.423m² và thửa 1014 tờ bản đồ số 53 diện tích 15.272m².
Năm 2019, ông C1 chết. Năm 2020, bà Diệp Thanh T và Phan Phú T1 thừa kế đất của ông C1 để lại và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Bà H, bà B có yêu cầu bà T giao diện tích đất đã được cho là 6.000m², giao căn nhà cấp 4 và diện tích xung quanh nhà là 1.000m² để thờ cúng nhưng bà T không đồng ý.
Do đó, bà Phan Thị H, Phan Thị B yêu cầu bà Diệp Thanh T, Phan Phú T1 giao trả mỗi người 3.000m², đất ruộng thuộc thửa 1014 tờ bản đồ số 53 theo vị trí các mốc 3, 4, 5, 6, 13, 12, 3 đo đạc thực tế 4.154m² theo sơ đồ đo đạc. Yêu cầu bà Diệp Thanh T, Phan Phú T1 trả lại 1.000m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa 1092 tờ bản đồ số 53 và căn nhà cấp 4 có chiều ngang khoảng 06m x chiều dài 11m; vách tường, mái lợp ngói, nền gạch tàu theo vị trí các mốc 23, 22, 21, 20, 25, 24, 23 đo đạc thực tế 813m² theo sơ đồ đo đạc. Tọa lạc tại xã H huyện C tỉnh Đồng Tháp. Các bà sẽ trả giá trị cây trồng và căn nhà cho bà T, ông T1 theo giá hội đồng định giá đã định (giá nhà, sân định giá 65.550.735đồng, giá cây trồng định giá là 29.621.000đ).
- Bị đơn bà Diệp Thanh T ủy quyền ông Đào Thanh N trình bày:
Bà T là vợ của ông Phan Văn C1. Năm 1998, bà và ông C1 do quen biết và chung sống với nhau, có tổ chức tiệc ra mắt hai bên họ hàng, vợ chồng chung sống đến năm 2006 có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Trước đây ông C1 có vợ trước nhưng đã ly hôn, năm 1998 thì ông chậm và bà chung sống với nhau tại căn nhà vách tường lợp ngói (căn nhà hiện nay bà H, bà B đang tranh chấp) và canh tác khoảng 05 công vườn và hơn 10 công ruộng.
Nguồn gốc thửa đất tranh chấp là của cha mẹ chồng là ông Phan Văn C và bà Bùi Thị T5, ông C1 đã canh tác các thửa đất của ông C và bà T5 từ lúc chưa lập gia đình. Bà có nghe ông C1 nói lại khi còn sống bà T5 có cho bà K1 05 công ruộng tầm nhỏ, cho bà N1 03 công rưởi ruộng tầm lớn, mẹ chồng không cho đất bà H và bà B do bà H và bà B lấy chồng bên gia đình chồng có đất có ruộng nên bà T5 không cho đất, còn bà N2 là ông C1 tự lấy 02 công ruộng tầm nhỏ cho bà N2 do bà N2 có công nuôi mẹ lúc còn sống.
Diện tích đất còn lại ông C1 kê khai và đứng tên quyền sử dụng. Khi bà chung sống với ông C1 thì ông C1 có thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền Ngân hàng, khi ông C1 chết bà phải trả hết nợ để xóa thế chấp. Thời gian bà sống cùng ông C1 và canh tác đất thì không ai đến tranh chấp hay có ý kiến gì đối với các thửa đất của ông C1. Sau khi ông C1 chết thì bà H và bà B phát sinh yêu cầu đòi bà T trả lại đất. Đối với căn nhà tranh chấp, bà cũng có nghe ông C1 nói đây là căn nhà của ông C1 xây dựng, sau khi bà T5 chết thì ông C1 xây nhà nhưng cũng không phải xây dựng trên nền nhà cũ của bà T5.
Năm 2007, vợ chồng bà T có chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N3 và Nguyễn Văn Bé H1 khoảng 500m² thuộc một phần thửa 1092 tờ bản đồ số 53, ông Bé H1 đã được đứng tên quyền sử dụng đất. Khi còn sống giữa ông C1 và vợ ông Bé H1 có xảy ra mâu thuẫn, bà N3 thường qua chửi ông C1 nên vợ chồng bà không ở được nên có ra phía sau cất căn nhà tạm sinh sống từ năm 2008 cho đến nay. Vì vậy, căn nhà vách tường lợp ngói (đang tranh chấp) không ai ở từ năm 2008.
Bà Diệp Thanh T không đồng ý theo yêu cầu của bà Phan Thị H và bà Phan Thị B, vì đất là của cha mẹ để cho ông C1 quản lý canh tác từ rất lâu, ông C1 cũng đã được đứng tên quyền sử dụng, sau khi ông C1 chết thì bà và các con cũng đã thực hiện thủ tục thừa kế đứng tên quyền sử dụng. Thời gian sử dụng cũng không ai tranh chấp hay có ý kiến gì. Bà H, bà B nói mẹ cho đất nhưng từ trước đến nay bà không biết và cũng không nghe ai nói lại việc bà T5 có cho đất bà H và bà B. Đối với căn nhà tường lợp ngói của ông C1, do căn nhà vợ chồng bà không ở được nên ra phía sau ở tạm chứ không phải bỏ hoang.
- Bị đơn Phan Phú T1 thống nhất theo trình bày của bà Diệp Thanh T.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phan Diệp T3 thống nhất trình bày của bà T.
3. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Phan Thị H và bà Phan Thị B.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị H, bà Phan Thị B yêu cầu bà Diệp Thanh T và Phan Phú T1 trả lại 4.154m² thuộc một phần thửa 1014 tờ bản đồ số 53 theo các mốc 3,4,5,6,12,13 (theo sơ đồ đo đạc ngày 22/5/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C).
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị H, bà Phan Thị B yêu cầu bà Diệp Thanh T và Phan Phú T1 trả lại 813m² thuộc một phần thửa 1092 tờ bản đồ số 53 và căn nhà có diện tích 74,72m² (ngang 6,15m x dài 12,15m) vị trí các mốc 23,22,21,25,24,23 (theo sơ đồ đo đạc ngày 22/5/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C).
- Về chi phí tố tụng: Bà Phan Thị H và bà Phan Thị Ba p nộp chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 11.559.000đ, bà H, bà B đã tạm nộp và đã chi xong.
- Về án phí: Bà Phan Thị H, bà Phan Thị B được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về tuyên về thời hạn kháng cáo theo luật định.
4. Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Phan Thị B và Phan Thị H là nguyên đơn không đồng ý với án sơ thẩm và kháng cáo yêu cầu như sau:
- - Yêu cầu bà Diệp Thanh T, anh Phan Phú T1 trả lại 4.154m² loại đất lúa, thuộc thửa 1014 tờ bản đồ số 53 theo vị trí các mốc 3, 4, 5, 6, 13, 12, 3 (theo sơ đồ đo đạc ngày 22/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C).
- - Yêu cầu bà Diệp Thanh T, anh Phan Phú T1 trả lại 813m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa 1092 tờ bản đồ số 53 và căn nhà có diện tích 74,72m² vị trí theo các mốc 23, 22, 21, 25, 24, 23 (theo sơ đồ đo đạc ngày 22/5/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C).
5. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Nguyên đơn Phan Thị B, Phan Thị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- - Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên quan điểm và thống nhất với án sơ thẩm.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các đương sự. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 16/2024/DSST ngày 28-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất” là phù hợp.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm nên có kháng cáo. Tòa án T6 thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về nguồn gốc đất: Phần đất tranh chấp do ông Phan Văn C và bà Bùi Thị T5 để lại. Ông C và bà T5 chưa được đứng tên quyền sử dụng đất. Năm 1965, ông C chết đến năm 1981 thì bà T5 chết. Năm 1996, ông C1 kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích 19.095m² gồm thửa 495 tờ bản đồ số 8 diện tích 5.462m², thửa 497 tờ bản đồ số 8 diện tích 13.083m² và thửa 498 tờ bản đồ số 8 diện tích 550m². Năm 2014, cấp đổi lại là thửa 1092 tờ bản đồ số 53 diện tích 5.423m² và thửa 1014 tờ bản đồ số 53 diện tích 15.272m². Năm 2019, ông C1 chết; Năm 2020 vợ và con ông C1 là bà Diệp Thanh T, Phan Diệp T3 và Phan Phú T1 thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của ông C1 nên bà Diệp Thanh T và ông Phan Phú T1 được đứng tên quyền sử dụng đất.
Về quá trình sử dụng đất: Sinh thời ông C1 sinh sống cùng cha mẹ và quản lý sử dụng toàn bộ diện tích đất của cha mẹ. Bà Phan Thị K1, Phan Thị N1, Phan Thị N2 được cho đất đã nhận đất sử dụng và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Sau khi bà T5 chết thì ông C1 vẫn trực tiếp quản lý sử dụng toàn bộ diện tích đất của cha mẹ để lại. Khi ông C1 chung sống với bà T thì vợ chồng vẫn trực tiếp quản lý sử dụng. Năm 2019, ông C1 chết thì bà T và các con quản lý sử dụng thửa đất 1014 và 1092 cho đến nay.
Theo công văn 989/UBND-NC ngày 12/3/2024 của Ủy ban nhân dân huyện C và Công văn 387/CNVPĐKĐĐ- ĐKCGCN ngày 04/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C thì thủ tục kê khai cấp đất cho hộ ông Phan Văn C1 và thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất từ ông Phan Văn C1 qua bà T và các con ông C1 là đúng quy định pháp luật.
Như vậy, hộ ông Phan Văn C1 đã sử dụng đất liên tục từ trước năm 1996 và sử dụng liên tục đến nay, thực hiện thủ tục kê khai và được công nhận Quyền sử dụng đất là đúng theo quy định pháp luật, sau đó thừa kế lại cho các con là phù hợp.
Việc bà Phan Thị B và Phan Thị H cho rằng lúc còn sống bà T5 có cho các bà mỗi người 03 công đất ruộng nhưng các bà chưa nhận đất canh tác, việc cho đất chỉ là nói miệng không lập văn bản và khi bà T5 nói cho đất có mặt của các chị em, có nhân chứng là chú ruột của các bà là ông Phan Văn E; Tuy nhiên, bà Phan Thị N2 là em ruột của bà H và bà B xác định bà N2 sống từ nhỏ với bà T5, bà N2 chăm sóc bà T5 đến lúc bà T5 chết, bà N2 trình bày trước đây cha mẹ có cho đất bà K1 và bà N1 nhưng bà không biết diện tích bao nhiêu, ngoài ra thì bà T5 không cho đất cho ai, toàn bộ diện tích đất còn lại bà T5 để cho ông C1, sau khi bà T5 chết ông C1 thấy bà có công nuôi mẹ nên có cho bà khoản 02 công đất ruộng. Thời gian sinh sống cùng bà T5 bà không nghe bà T5 nói gì về việc cho đất bà H và bà B.
Mặt khác theo bà H và bà B trình bày được cha mẹ cho đất nhưng chưa nhận mà gởi lại cho các anh em canh tác nuôi dưỡng, thờ cúng cha mẹ nhưng khi cha mẹ mất cũng không đi đăng ký kê khai quyền sử dụng đất theo quy định hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác liên quan đến Quyền sử dụng đất.
Bà Phan Thị H và bà Phan Thị B yêu cầu đòi lại đất đã được mẹ cho, nhưng các bà không có chứng cứ gì để chứng minh việc các bà được mẹ là bà Bùi Thị T5 cho đất, nhân chứng là chú ruột và các em của các bà cũng không chứng kiến việc bà T5 cho đất các bà mà chỉ nghe nói lại, các bà cũng không trực tiếp canh tác đất. Bà T5 chết năm 1981 đến năm 1996 ông C1 kê khai đất của bà T5 ông C để lại nhưng các bà không phát sinh tranh chấp.
Đối với căn nhà trên diện tích đất nguyên đơn yêu cầu tại các mốc 23,22,21,20,25 thuộc một phần thửa 1092 tờ bản đồ số 53 thì các nguyên đơn và các nhân chứng cũng như bị đơn thừa nhận căn nhà này do ông Phan Văn C1 xây dựng từ năm 1991, thời điểm này bà T5 đã chết nên căn nhà này là tài sản của ông C1 chứ không phải căn nhà của ông C và bà T5 để lại.
Như vậy, việc bà Phan Thị B và bà Phan Thị H yêu cầu hộ bà T giao lại đất và căn nhà cho các bà là không có căn cứ chấp nhận.
Do đó, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Phan Thị B và Phan Thị H về việc “Yêu cầu bà Diệp Thanh T, anh Phan Phú T1 trả lại 4.154m² loại đất lúa, thuộc thửa 1014 tờ bản đồ số 53 theo vị trí các mốc 3, 4, 5, 6, 13, 12, 3” và trả lại 813m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa 1092 tờ bản đồ số 53 và căn nhà có diện tích 74,72m² vị trí theo các mốc 23, 22, 21, 25, 24, 23 (theo sơ đồ đo đạc ngày 22/5/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C) là có căn cứ.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phan Thị B và bà Phan Thị H.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 28/03/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
Xét lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị B và Phan Thị H là có căn cứ.
Về phần án phí phúc thẩm do bà Phan Thị B và bà Phan Thị H thuộc diện người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 điều 26, khoản 1 Điều 38; Điều 148, khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 48- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phan Thị B và Phan Thị H.
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành.
* Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Phan Thị H và bà Phan Thị B.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị H, bà Phan Thị B yêu cầu bà Diệp Thanh T và Phan Phú T1 trả lại 4.154m² thuộc một phần thửa 1014 tờ bản đồ số 53 theo các mốc 3,4,5,6,12,13 (theo sơ đồ đo đạc ngày 22/5/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C).
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị H, bà Phan Thị B yêu cầu bà Diệp Thanh T và Phan Phú T1 trả lại 813m² thuộc một phần thửa 1092 tờ bản đồ số 53 và căn nhà có diện tích 74,72m² (ngang 6,15m x dài 12,15m) vị trí các mốc 23,22,21,25,24,23 (theo sơ đồ đo đạc ngày 22/5/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C).
- Về chi phí tố tụng: Bà Phan Thị H và bà Phan Thị Ba p nộp chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 11.559.000đ, bà H, bà B đã tạm nộp và đã chi xong.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Phan Thị H, bà Phan Thị B được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí phúc thẩm: Bà Phan Thị H, bà Phan Thị B được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
Các |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng |
Bản án số 394/2024/DS-PT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
- Số bản án: 394/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
