Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ V

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 294/2024/HS-ST

Ngày: 25/09/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V - NGHỆ AN

— Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Nữ Hạnh Dung
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Đoàn và bà Trần Thị Hồng
  • Thư ký phiên toà: Bà Lê Mai Hoa - Thư ký TAND TP .V
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sáng - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 09 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 292/2024/HSST ngày 09 tháng 09 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 347/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 09 năm 2024 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Đức H; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1995 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: xóm G, xã M, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1; A, chị, em ruột có 07 người, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình; Vợ, con: không; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Bùi Đình T1; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1980 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Đình T2 và bà Hồ Thị T3; A, chị, em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ: Trần Thị Y – sinh năm 1986, có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Trần Thị Y – sinh năm 1986. Địa chỉ: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 19/6/2024, Nguyễn Đức HBùi Đình T1 ngồi uống bia cùng nhau tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Tại đây, HT1 bàn bạc, thống nhất góp tiền mua ma túy hồng phiến để cùng sử dụng. Hựu góp 200.000 đồng, T1 sử dụng tài khoản số 0347845996 mang tên Bùi Đình T1 mở tại ngân hàng TMCP Q (MB) chuyển 300.000 đồng vào tài khoản số 0344522454 của Hựu mở tại ngân hàng TMCP Q (MB) để góp tiền mua ma túy. Sau khi T1 chuyển tiền, H liên lạc qua Zalo cho một người phụ nữ tên H2 trú tại TP V (không biết rõ lý lịch, địa chỉ cụ thể) để hỏi mua 500.000 đồng ma túy hồng phiến. H2 đồng ý nhắn tin số tài khoản ngân hàng để H chuyển tiền mua ma túy. Hựu sử dụng tài khoản của mình số 0344522454 chuyển 500.000 đồng vào tài khoản Huyền gửi có số 8832379082 mở tại Ngân hàng TMCP Đ (B), chủ tài khoản Phan Đăng P (sinh năm 1988, trú tại khối B, phường H, TP V, tỉnh Nghệ An) để mua ma túy. Chuyển tiền xong H gọi điện cho H2 thì H2 nói H đến lấy ma túy để ở hộp điện tầng 1 của chung cư K, phường Q, thành phố V. Sau đó, H nói T1 chở đến chung cư K để lấy ma túy. T1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave a, biển số 37N1-889.94 chở H đến sân chung cư K, T1 ở ngoài chờ còn H đi vào hộp điện ở tầng 1 thì thấy 01 bao ni lông màu trắng, bên ngoài được quấn bằng băng dính màu đen, bên trong có chứa 05 viên ma túy hồng phiến hình tròn, màu đỏ. Hựu cầm gói ma túy ở tay trái rồi đi ra ngồi sau xe T1 để đi tìm nơi sử dụng. Đến 21 giờ 25 phút cùng ngày, khi HT1 đi ra đến cổng chung cư K thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố V yêu cầu kiểm tra hành chính. Hựu thả gói ma tuý đang cầm ở tay trái xuống mặt đường nhưng bị tổ công tác phát hiện và yêu cầu nhặt lên. Tổ công tác đã đưa người cùng cùng tang vật về trụ sở Công an thành phố V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Kết luận giám định số 702/KL-PC09(Đ2- MT) ngày 26/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén hình tròn màu Đỏ, trên bề mặt mỗi viên in chữ WY thu giữ của Nguyễn Đức HBùi Đình T1 gửi tới giám định là ma túy; loại Methamphetamine có khối lượng 0,500 gam.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Đức H, Bùi Đình T1 gồm:

  • 01 phong bì thư niêm phong, dán kín bên trong có chứa ma túy;
  • 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu xanh, biển kiểm soát 37N1-889.94 thu giữ của Bùi Đình T1
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu trắng của Nguyễn Đức H.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu trắng của Bùi Đình T1.

Cáo trạng số 296/CT-VKS-TPV ngày 09/09/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Nguyễn Đức H, Bùi Đình T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt Nguyễn Đức H từ 15 – 18 tháng tù. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS Bùi Đình Thuận từ 15 – 18 tháng tù. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Về vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của các bị cáo, tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo, trả lại cho chị Trần Thị Y 01 chiếc xe máy mang biển kiểm soát 37N1-889.94. Về án phí: đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Trần Thị Y và chồng là bị cáo Bùi Đình T1 đều thừa nhận chiếc xe xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu xanh, biển kiểm soát 37N1-889.94 đang bị thu giữ là tài sản chung của vợ chồng, thường ngày sử dụng làm phương tiện đi lại để hai vợ chồng chở nhau đi làm phụ hồ nên có nguyện vọng xin được trả lại chiếc xe này để chị Y có phương tiện đi làm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Đức H, Bùi Đình T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không có tranh luận gì. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra và tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 21 giờ 25 phút ngày 19/6/2024, tại cổng chung cư K thuộc khối A, phường Q, TP ., Nguyễn Đức HBùi Đình T1 đang tàng trữ trái phép 0,500 gam ma tuý Methamphetamine để sử dụng thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Như vậy, hành vi mà Nguyễn Đức H, Bùi Đình T1 thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội.

[2.2] Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, vi phạm các quy định của Nhà nước về việc quản lý các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, giống nòi, là nguồn gốc gây ra nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm nguy hiểm khác. Bản thân các bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất độc hại, Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng, vận chuyển nhưng vẫn liều lĩnh thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm, tương xứng với tính chất hành vi và mức độ phạm tội để cải tạo, giáo dục các bị cáo và làm gương răn đe những đối tượng khác. Vì vậy, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; chú ruột của bị cáo H3 là liệt sỹ nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo H và áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo T1 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm, để các bị cáo thấy khoan hồng của pháp luật mà cải tạo, sửa chữa.

[2.3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

[2.4] Đối với người phụ nữ tên H2 đã bán ma tuý cho H do không xác minh được địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với anh Phan Đăng P là chủ tài khoản 8832379082 Ngân hàng BH đã chuyển tiền vào để mua ma tuý của người phụ nữ tên H2. Quá trình điều tra xác định, trước đây anh P đã dùng số căn cước công dân của mình để đăng ký cho khách hàng sử dụng (không nhớ tên tuổi, địa chỉ), anh P không sử dụng và cũng không biết ai đang sử dụng số tài khoản trên nên không phạm tội.

Đối với số điện thoại 0816.922.xxx được dùng để đăng ký dịch vụ ngân hàng điện tử (Smart banking) của tài khoản ngân hàng B, hiện cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, khi làm rõ sẽ xử ký sau.

[2.5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín bên trong có chứa ma túy thu giữ của Nguyễn Đức HBùi Đình T1 là vật nhà nước cấm tàng trữ; tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S thu giữ của Bùi Đình T1 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu trắng thu giữ của Nguyễn Đức H là công cụ phạm tội. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Wave a, màu xanh, biển kiểm soát 37N1-889.94 thu giữ của Bùi Đình T1. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T1 và vợ là chị Trần Thị Y đều trình bày chiếc xe này là tài sản chung của vợ chồng, có nguyện vọng được trả lại chiếc xe này để làm phương tiện đi lại làm ăn kiếm sống. Xét thấy,

nguyện vọng của vợ chồng là chính đáng, chị Y không biết việc T1 sử dụng xe để đi mua ma túy nên cần trả lại chiếc xe này cho chị Y như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[2.6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đức H, Bùi Đình T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt Nguyễn Đức H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/6/2024.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt Bùi Đình T1 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/6/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín bên trong có chứa ma túy thu giữ của Nguyễn Đức HBùi Đình T1; tịch thu hóa giá sung quỹ 01 chiếc điện thoại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu trắng thu giữ của Bùi Đình T1 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu trắng thu giữ của Nguyễn Đức H. Trả lại cho chị Trần Thị Y chiếc xe máy nhãn hiệu Wave a, màu xanh, biển số 37N1-889.94 số máy JA70E-02992721, số khung RLHJA3939RY025218 thu giữ của Bùi Đình T1. (Số vật chứng này hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho số NK 2024/313 ngày 24/09/2024).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Nguyễn Đức H, Bùi Đình T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - VKSND TP.Vinh
  • - VKSND tỉnh Nghệ An
  • - Chi cục THADS TP.Vinh
  • - Công an thành phố Vinh
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An
  • - Bị cáo
  • - Người có QL&NVLQ (0362.296.846)
  • - Lưu HS

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Hồ Nữ Hạnh Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 294/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 294/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 15 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger