Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 394/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19-09-2024

V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải.

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Mão, ông Nguyễn Hồ Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương Ly- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bằng Giang- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 304dân sự 162/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 07 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo Quyết định hoãn số 110/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 08 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H; sinh năm 1993; địa chỉ trước xuất cảnh: Xóm T, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; hiện cư trú tại: Nhật Bản; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Đặng Đình Đ, sinh năm 1991; địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thế H1 sinh năm 1970, bà Giản Thị L sinh năm 1974; cùng địa chỉ: Xóm T, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai đề ngày 21/05/2024, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị Nguyễn Thị H và anh Đặng Đình Đ có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 18/12/2015 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Đến tháng 5 năm 2019, chị H và anh Đ phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, chị H cùng con về sinh sống ở nhà ngoại tại địa chỉ xóm T, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đặng Thiện L1, sinh ngày 24/06/2016. Hiện nay, cháu L1 đang ở với ông bà ngoại là ông Nguyễn Thế H1 bà Giản Thị L. Chị H trình bày nếu ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 24 tháng 7 năm 2024, biên bản lấy lời khai ngày 23 tháng 8 năm 2024 thể hiện bị đơn anh Đặng Đình Đ có hộ khẩu thường trú tại Xóm T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Anh Đ đi làm ăn xa ở miền N không rõ địa chỉ cụ thể, thường liên lạc với gia đình qua mạng xã hội. Hiện Anh Đ vắng mặt tại địa phương; Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, con chung vợ chồng thì giống như nguyên đơn trình bày. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm thông báo về việc thụ lý vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, quyết định hoãn phiên tòa tại nơi cư trú cuối cùng của anh Đ trước khi đi khỏi nơi cư trú. Tuy nhiên, anh Đ không có ý kiến gì và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.

Ông Nguyễn Thế H1, bà Nguyễn Thị L2 (bố mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị H) thống nhất trình bày: Ông H1 và bà L2 (ông bà ngoại cháu) là người được chị H nhờ trực tiếp chăm sóc cháu Đặng Thiện L1 - con chung của vợ chồng anh Đ, chị H trong thời gian chị H đi làm ăn xa. Nay vợ chồng ly hôn ông H1, bà L2 không yêu cầu chị H, anh Đ phải thanh toán các khoản chi phí mà ông, bà đã chăm sóc cháu. Nếu Tòa án giao con chung cho chị H nuôi dưỡng; ông H1, bà L2 cam kết sẽ quản lý, chăm sóc cháu chu đáo trong thời gian chị H vắng mặt.

Cháu Đặng Thiện L1 trình bày: Cháu là con của bố Đặng Đình Đ và mẹ Nguyễn Thị H, kể từ khi mẹ đi nước ngoài cháu ở với ông bà ngoại. Nay bố mẹ ly hôn, nguyện vọng cháu tiếp tục ở với mẹ và ông bà ngoại.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm HĐXX nghị án đúng quy định của pháp luật;

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho anh Đ và chị H được ly hôn; áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Đặng Thiện L1 cho chị H chăm sóc nuôi dưỡng, anh Đ có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cấm, anh Đ có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con chung; về cấp dưỡng: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xem xét; về tài sản chung, nợ chung: chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên miễn xét; chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; về quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình có đương sự hiện đang ở Nhật Bản. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2] Về thủ tục tố tụng: Anh Đặng Đình Đ hiện rời khỏi nơi cư trú, đi làm ăn không rõ địa chỉ cụ thể. Ông Đặng Đình G (là bố đẻ của anh Đ) cho biết anh Đ thường liên lạc về với gia đình qua mạng xã hội. Tòa án yêu cầu ông Đặng Đình G cung cấp địa chỉ cụ thể của anh Đ nhưng ông không cung cấp được. Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo đúng quy định pháp luật. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của anh Đ trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn anh Đặng Đình Đ vắng mặt, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thế H1, bà Giản Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành mở phiên tòa vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là phù hợp điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Đình Đ chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống chung hạnh phúc một thời gian ngắn thì đã phát sinh mâu thuẫn, hiện đã sống ly thân, mỗi người một nơi. Chị H đang sinh sống làm việc ở tại Nhật Bản, anh Đ ở Việt Nam. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính tình không hợp, hai bên không còn liên lạc, quan tâm nhau, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Chị H có nguyện vọng được ly hôn với anh Đ. Qua xem xét lời trình bày nguyên đơn, xác minh tình trạng hôn nhân, xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh Đ không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị H được ly hôn với anh Đ là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đặng Thiện L1 sinh ngày 24/06/2016. Hiện nay, cháu L1 đang ở với ông bà ngoại là ông Nguyễn Thế H1 bà Giản Thị L. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, anh Đ không hợp tác, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không rõ địa chỉ cụ thể ở đâu. Chị H mặc dù đang ở nước ngoài nhưng có địa chỉ cụ thể, bố mẹ đẻ chị H cam kết sẽ chăm sóc nuôi dưỡng cháu L1 trong thời gian chị H chưa về nước. Mặt khác, cháu L1 cũng có nguyện vọng được ở với mẹ là chị H. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu L1, cần giao cháu L1 cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh Đ có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cấm là phù hợp

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40, khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H
    • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Đặng Đình Đ
    • - Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Đặng Thiện L1 cho chị Nguyễn Thị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu L1 đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Nguyễn Thị H chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    Chấp nhận sự tự nguyện của vợ chồng ông Nguyễn Thế H1, bà Giản Thị L nhận trách nhiệm quản lý, chăm sóc cháu Đặng Thiện L1 trong thời gian chị H chưa về nước.

    Sau khi ly hôn, anh Đặng Đình Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

    - Về tài sản chung, nợ chung: Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

  2. Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0012959 ngày 24 tháng 06 năm 2024.
  3. Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; anh Đặng Đình Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã N, huyện T;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 394/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 394/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình Nguyễn Thị H- Đặng Đình Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger