TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 394/2024/DS-ST Ngày: 16/7/2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Diễm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa ;
- Ông Nguyễn Thành Hưng .
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Yến Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 666/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 606/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số : 793/2024/QĐST-DS ngày 20/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S (Viết tắt: S1).
- Bị đơn: Ông Dương Nguyễn Quang T, sinh năm: 1998 - Vắng mặt.
Trụ sở: 2 N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Bà Nguyễn Đức Thạch D – Là người đại diện theo pháp luật ;
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S2): Ông Lã Ngọc M – Là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số 3429/2023/UQ-TGĐ ngày 10/10/2023) – có đơn xin xét xử vắng mặt.
Cư trú: 80A Vườn Lài, tổ A, khu phố D, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19/10/2023 và trong các bản tự khai, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S (viết tắt:S1), có ông Lã Ngọc M là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 25/03/2022, Ông Dương Nguyễn Quang T có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng số thẻ 472074-6538 với hạn mức sử dụng là 10,000,000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 30,449,000 đồng.
Trong quá trình sử dụng Thẻ tín dụng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 21,047,000 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:
- + Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước
- + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
- + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
- + Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ
- + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
- + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 11/10/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng Thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang
nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện K hành sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 11,950,360 đồng làm nợ gốc và tính lãi hàng tháng trên dư nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại, lãi suất trong hạn là 2,6%/tháng X 150%= 3,9%/tháng lãi quá hạn).
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông T, yêu cầu ông T có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông T trả nợ, tuy nhiên ông T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Nay, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Dương Nguyễn Quang T phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 16/7/2024 là 21,970, đồng (Bằng chữ: Hai mươi một triệu, chín trăm bảy mươi nghìn, bốn trăm ba mươi lăm đồng, trong đó:
- Và ông T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 17/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
- Số tiền trên Ngân hàng chỉ yêu cầu một mình ông T chịu, Ngân hàng không yêu cầu ai liên đới trả thay.
- Nợ gốc : 11.950.360 đồng
- Lãi quá hạn : 10,020, đồng
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thủ tục niêm yết công khai thông báo về việc thụ lý vụ án đối với bị đơn là ông Dương Nguyễn Quang T. Tuy nhiên, Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến, yêu cầu của ông T đối với yêu cầu của nguyên đơn là S1.
Tòa án tiếp tục triệu tập các đương sự để tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Dương Nguyễn Quang T liên tục vắng mặt. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên vụ án đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Tại phiên tòa ngày 20/6/2024, ông Dương Nguyễn Quang T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không có lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại các khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án nhân dân Quận 12 thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ các thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tuy thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng không ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc xét xử vụ án.Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tranh chấp giữa S1 với ông Dương Nguyễn Quang T là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Trong hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ ngày 16/9/2019, Nguyên đơn ghi rõ trong đơn khởi kiện địa chỉ liên lạc của ông Nguyễn Văn N tại quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017; Điều 26, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ
án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Dương Nguyễn Quang T đang cư trú, sinh sống tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào các điều 26, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Dương Nguyễn Quang T vắng mặt lần 2 không rõ lý do nên không có lời khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà L theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
- Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của đương sự; căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được, có đủ cơ sở xác định:
Theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng giữa bên sử dụng thẻ tín dụng là ông Dương Nguyễn Quang T và bên cho sử dụng thẻ tín dụng là S1 có chữ ký của ông Dương Nguyễn Quang T mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án và lời khai của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định: ngày 25/3/2022 (là ngày hợp đồng tín dụng được S1 phê duyệt), ông Dương Nguyễn Quang T đã sử dụng số tiền từ thẻ tín dụng, tổng cộng là : 21,970, đồng (Bằng chữ:Hai mươi một triệu, chín trăm bảy mươi nghìn, bốn trăm ba mươi lăm đồng đồng .
Trong quá trình thực hiện giao dịch, ông T đã trả cho nguyên đơn số tiền là: 21,047,000 đồng (Hai mươi một triệu không trăm bốn mươi bảy ngàn) đồng. S1 có nhắc nợ nhiều lần đối với ông T nhưng ông T vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho S1. Hiện nay, tính đến ngày 16/7/2024 thì ông T còn nợ S1 tổng cộng với số tiền là: 21,970, đồng (Bằng chữ: Hai mươi một triệu, chín trăm bảy mươi nghìn, bốn trăm ba mươi lăm đồng đồng .
Nay, S1 buộc cá nhân ông Dương Nguyễn Quang T (không yêu cầu bất kỳ ai) phải thanh toán tổng số tiền nợ là: 21,970, đồng (Bằng chữ: Hai mươi một triệu,
chín trăm bảy mươi nghìn, bốn trăm ba mươi lăm đồng đồng, trong đó thanh toán số nợ gốc là: 11.950.360 đồng và thanh tóan số lãi quá hạn là: 10,020, đồng, ông T phải trả lãi phát sinh từ ngày 17/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng .
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do vậy, đối với hợp đồng vay mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng vay được thực hiện theo thỏa thuận mà không theo quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2015. Xét thấy, các yêu cầu trên của S1 đối với bà Bùi Thị Thúy L1 là có căn cứ và hợp pháp nên được chấp nhận.
Về án phí: ông Dương Nguyễn Quang T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 26; 35; 39; 147; 227; 228 và 273 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các điều 47; 474; 476 và 478 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án năm 2009;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Buộc ông Dương Nguyễn Quang T phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền nợ là: 21,970, đồng (Bằng chữ: Hai mươi một triệu, chín trăm bảy mươi nghìn, bốn trăm ba mươi lăm đồng đồng, trong đó thanh toán số nợ gốc là: 11.950.360 (Mười một triệu chín trăm năm mươi nghìn ba trăm sáu mươi) đồng và thanh tóan số lãi quá hạn là: 10,020, (Mười triệu lẻ hai mươi ngàn lẻ bảy mươi lăm) đồng.
Việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/7/2024), ông D1 Nguyễn Quang T còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần S thì lãi suất mà ông Dương Nguyễn Quang T phải thanh toán cho Ngân hàng theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Dương Nguyễn Quang T phải chịu 1.098.522 (Một triệu lẻ chín mươi tám nghìn năm trăm hai mươi hai) đồng.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 434.690 (Bốn trăm ba mươi bốn ngàn sáu trăm chín mươi) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0031001 ngày 02/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12.
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận: - VKSND Quận 12, Tp. HCM; - Chi cục THADS Quận 12, Tp. HCM; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Diễm |
Bản án số 394/2024/DS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 394/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
