Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 394/2025/DS-PT

Ngày: 14 và 30-05-2025

V/v: Tranh chấp Đòi tiền đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Đặng Mai Hoa
Các thẩm phán:Ông Đàm Văn Thuận
Bà Trần Thị Diệp Linh
Thư ký ghi biên bản phiên tòa:Bà Nguyễn Ngọc Anh– Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Như Quỳnh- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 14 và ngày 30 tháng 05 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 102/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi tiền đặt cọc”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 270/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 246/2025/QĐ-PT ngày 31/03/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Đào Hồng Q; sinh năm 1983;
    Bà Lê Thị T; sinh năm 1989;
    Cùng nơi thường trú tại: Số D phố Y, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội. Cùng nơi ở hiện tại: P, Tòa N, chung cư C, A T, quận C thành phố Hà Nội.
    Ông Q, bà T uỷ quyền cho: ông Nguyễn Đăng T1, CCCD số: [...] và ông Mậu Xuân C, CCCD số [...] (Theo hợp đồng uỷ quyền ngày 04/4/2024 số công chứng 241572, Quyển số 16/UQ – Văn phòng công chứng Việt - Thành phố H). (ông Mậu Xuân C có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Trần Ngọc S; sinh năm 1970
    Bà Dương Thị Kim Y; sinh năm 1973;

Cùng nơi thường trú tại: Số A phố N, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Cùng nơi ở hiện tại: Số A, ngõ B phố N, phường Đ (địa chỉ cũ là số A ngõ C phố N phường Đ), quận B, thành phố Hà Nội. (ông S vắng mặt, bà yến có mặt).

Do có kháng cáo của bị đơn là bà Dương Thị Kim Y.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm, vụ án có nội dung như sau:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, đại diện ủy quyền của nguyên đơn là ông Đào Hồng Q và bà Lê Thị T trình bày:

Do nhu cầu của các bên nên ngày 06/06/2019, ông Đào Hồng Q và bà Lê Thị T có đặt cọc mua tài sản nhà đất của ông Trần Ngọc S - bà Dương Thị Kim Y, hai bên ký Hợp đồng đặt cọc dưới sự làm chứng của Luật sư Nguyễn Hữu M - Thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H- Công ty L. Tài sản ông S - bà Y chuyển nhượng cho ông Q, bà T là nhà và đất tại địa chỉ: thôn Đ, xã S, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, thửa đất số 348.351, tờ bản đồ số 01 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp, diện tích 4585,0 m² đất rừng sản xuất sử dụng đến ngày 15/10/2043 đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 497983, số vào sổ cấp GCN: H/00090/QSDĐ ngày 9/12/2009 do UBND huyện H, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 09/12/2009.

Hai bên thỏa thuận mua bán thửa đất trên với giá là 8.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Tám tỷ đồng). Ngày 06/06/2019, ông Q và bà T đã đặt cọc trước số tiền 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng). Theo thỏa thuận tại Hợp đồng đặt cọc ngày 06 tháng 06 năm 2019, sau 90 ngày (tức ngày 06/09/2019), ông S - bà Y không có nhu cầu bán tài sản nữa thì phải trả lại cho vợ chồng bà T và ông Quân S1 tiền đã đặt cọc là 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng) và chịu phí phạt do hủy hợp đồng là 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng).

Đã quá thời gian chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi tại Hợp đồng, ông Trần Ngọc S- bà Dương Thị Kim Y chối bỏ trách nhiệm không ký công chứng chuyển nhượng nhà và đất có GCNQSDĐ số AP 497983 và cũng không trả lại tiền đặt cọc mua nhà và phí phạt cọc cho ông Q và bà T.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, vợ chồng bà T và ông Q viết đơn khởi kiện ông Trần Ngọc S và bà Dương Thị Kim Y, nội dung khởi kiện là đòi lại tiền đặt cọc.

Tại biên bản hoà giải ngày 22/8/2024, đại diện ủy quyền cho nguyên đơn giữ nguyên quan điểm buộc ông Trần Ngọc S và bà Dương Thị Kim Y phải trả lại cho ông Đào Hồng Q và bà Lê Thị T số tiền là 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng) và trả thêm phí phạt 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng) do ông S, bà Y vi phạm thỏa thuận. Bị đơn bà Dương Thị Kim Y xác nhận còn nợ bà Lê Thị T số tiền 450.000.000 đồng (gồm hơn 200 triệu tiền nợ gốc và 200 hơn 200 triệu tiện nợ lãi).

Bà Y có quan điểm "đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi lại tiền đặt cọc của bà T vì bà không nhận tiền như giấy nhận tiền mà bà T lừa bà viết và ký".

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn không đồng ý với quan điểm của bà Dương Thị Kim Y, bởi những lẽ sau:

Thứ nhất, Hợp đồng đặt cọc ngày 06 tháng 06 năm 2019 giữa bà Lê Thị T, cùng chồng là ông Đào Hồng Q và bà Dương Thị Kim Y, ông Trần Ngọc S là hợp đồng được lập theo thoả thuận của các bên, mục đích là đặt cọc để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 348.351, tờ bản đồ số 01 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp, diện tích 4585,0 m² đất rừng sản xuất sử dụng đến ngày 15/10/2043, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 497983 địa chỉ tại thôn Đ, xã S, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Thoả thuận này hoàn toàn tự nguyện, nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, việc ký hợp đồng đặt cọc được dưới sự chứng kiến của Luật sư Nguyễn Hữu M và việc giao nhận tiền được bà T và bà Y ký tên trên giấy giao nhận tiền đề ngày 6/6/2019 với số tiền 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng).

Thứ hai, việc bà Dương Thị Kim Y cho rằng bà Y nợ bà Lê Thị T 450.000.000 đồng, đây là việc bà Y vay tiền của bà T trong một giao dịch dân sự (hợp đồng) khác, không liên quan đến việc đặt cọc để nhận chuyển nhượng đất giữa bà T và bà Y. Do quen biết lâu năm nên giữa bà T và bà Y có rất nhiều giao dịch vay, mượn tiền, và những giao dịch đó nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Vì vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật và thòa thuận giữa các bên:

Căn cứ Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015:

"Điều 328. Đặt cọc

2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc: nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Căn cứ đoạn 2 điều 4 Hợp đồng đặt cọc ngày 06 tháng 06 năm 2019 giữa bà Lê Thị T, cùng chồng là ông Đào Hồng Q và bà Dương Thị Kim Y, ông Trần Ngọc S:

"Điều 4: Trách nhiệm vi phạm hợp đồng

Bên B: Sau khi nhận tiền đặt cọc, nếu bên B thay đổi ý định không chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất của mình cho bên A theo thỏa thuận thì Bên B có nghĩa vụ trả lại cho Bên A số tiền đã đặt cọc đồng thời phải nộp phạt vi phạm hợp đồng đặt cọc số tiền là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Trường hợp sau 90 (Chín mươi) ngày kể từ ngày Bên B nhận đặt cọc mà không xúc tiến việc ký hợp đồng chuyển nhượng, hoặc không muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi nhận tại hợp đồng này, thì Bên B phải hoàn trả lại tiền đặt cọc cho Bên A, đồng

thời Bên B phải nộp phạt vi phạm hợp đồng đặt cọc này cho Bên A một khoản tiền bằng số tiền Bên B đã nhận đặt cọc của Bên A: 1.000.000.000 VNĐ. Bằng chữ: (Một tỷ đồng chẵn)".

Từ những lẽ trên, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc ông Trần Ngọc S - bà Dương Thị Kim Y phải trả lại cho nguyên đơn số tiền là 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng) và trả số tiền phạt vi phạm hợp đồng 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng) do ông S- bà Y vi phạm thỏa thuận, từ chối thực hiện Hợp đồng. Vậy, tổng số tiền ông S - bà Y phải trả cho nguyên đơn là 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng).

Tại bản tự khai ngày 25/7/2024 và quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Dương Thị Kim Y trình bày:

Bà Y cho biết: Ông Trần Ngọc S đã nhận giấy triệu tập của toà án và quyết định đưa vụ án ra xét xử số 360/2024/QĐXXST-DS ngày 05/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình và ông S đã có ý kiến sau khi nhận được giấy triệu tập của Toà án đến phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải. Ông S xin vắng mặt tại buổi làm việc tại Toà án và uỷ quyền cho bà Dương Thị Kim Y được toàn quyền thay ông S giải quyết mọi việc của vụ án. Nên ngày hôm nay bà vẫn là người đại diện cho ông S thay mặt trình bày tại Toà án.

Bà Dương Thị Kim Y xác nhận bà còn nợ bà Lê Thị T số tiền là 450.000.000 đồng (Cụ thể: hơn 200 triệu tiền nợ gốc và hơn 200 triệu tiền nợ lãi, hai giấy vay tiền này bà T đã xé đi, chỉ còn lại các tin nhắn giữa bà Y và bà T). Sau đó, bà T lừa bà đưa giấy vay tiền, một giấy tính nợ gốc và một giấy tính nợ lãi, tổng cộng là 450.000.000 đồng và bà T đã xé hai giấy vay tiền này của bà. Vì bà T hứa cho bà vay 1.000.000.000 đồng và nói ký giấy nhận tiền và ký vào hợp đồng đặt cọc do bà T chuẩn bị sẵn nên bà và ông S (chồng cũ của bà Dương Thị Kim Y – đã ly hôn từ năm 2018 nhưng vẫn ở chung nhà) đã đồng ý ký trước giấy nhận tiền có nội dung nhận 1.000.000.000 đồng nhưng thực tế bà không nhận được một đồng nào và ký vào hợp đồng đặt cọc, có sự chứng kiến của người làm chứng do bà T mời. Sau khi ký giấy nhận tiền 1.000.000.000 đồng của bà Lê Thị T và ký hợp đồng đặt cọc để bán mảnh đất tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh, bà T hứa với bà Y rằng cứ về đi khoảng hai tiếng nữa sẽ mang tiền 1.000.000.000 đồng qua nhà bà Y và giao cho bà Y. Nhưng thực tế bà T không giao tiền cho bà, bà Y không nhận được tiền nên không bán đất và hợp đồng đặt cọc ngày 06/6/2019 là do bà T lừa dối bà ký để cho bà vay tiền (việc này bà Y đã chụp lại toàn bộ tin nhắn giữa bà và bà T cho Công an quận C). Bà Y cho rằng bà T đã cố tình sắp đặt sự việc ngay từ đầu, lợi dụng lòng tin tưởng cố tình lừa bà Y với mục đích cá nhân. Do vậy nay bà T khởi kiện bà và ông Trần Ngọc S đòi lại tiền đặt cọc và chịu thêm phí phạt do huỷ hợp đồng là 1.000.000.000 đồng là không đúng, bà không đồng ý.

Bà đã gửi tin nhắn qua lại với bà T về việc chưa nhận được tiền 1.000.000.000 đồng như bà T đã hứa với bà sau khi ký giấy nhận tiền và hợp đồng đặt cọc ngày 06/6/2019. Toàn bộ tin nhắn giao dịch giữa bà và bà T tại thời điểm đó như sau: Vì công việc lúc đó của bà Y cần tiền cho việc làm mỏ và nông nghiệp nên bà cần thêm tiền đầu tư và chi trả cho công việc, bà vay lãi của bà T với lãi suất 5.000 đồng cho 1.000.000 đồng một ngày trong một thời gian rất dài. Bà cũng đã lo được khoảng thời gian đầu và trả lãi đầy đủ cho bà T. Vì công việc không thuận lợi, bà Y đã phải vay thêm bà T 1 tỷ đồng nữa. Số tiền nợ cũ bà và bà T đã chốt lại là 450.000.000 đồng (Bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi). Khi bà Y cần vay thêm 1 tỷ bà T nói phải đồng ý biết và ký hợp đồng đặt cọc mua đất cho vợ chồng bà T, lúc đó bà T đưa bà tới gặp ông D và giới thiệu ông D là anh của bà T. Sau khi ký vào hợp đồng theo yêu cầu của bà T, bà T đã không đưa tiền cho bà và bảo bà gặp ông D và ký đặt tiếp sổ đỏ cho ông D và bà không đồng ý vì đó là việc làm trái pháp luật. Bà T đã dựa vào lý do đó và không đưa tiền cho bà.

Ngày 3/6/2019, bà T đã chủ động gửi cho bà Y hợp đồng đặt cọc và yêu cầu bà làm việc với ông D qua số điện thoại 0906.003.xxx. Bà T sắp xếp ký hợp đồng tại quán cà phê và bà T đọc cho bà Y viết giấy biên nhận. Bà T nói rằng chiều ngày 6/6/2019 ông D sẽ mang tiền tới cùng bà T sẽ hẹn tại nhà bà. Bà Y đã chờ cả ngày 6/6/2019 tới 5 ngày sau cũng không thấy ông D và bà T tới giao tiền. Tới tận bây giờ bà vẫn chưa nhận được số tiền 1 tỷ đồng như đã đề cập như trên. Ngay khi không nhận được số tiền 1 tỷ đồng, bà Y đã trao đổi cùng bà T qua tin nhắn rằng bà T đã lừa bà cùng ông S chồng cũ của bà ký hợp đồng đặt cọc cùng giấy biên nhận, và bà T đã xác nhận việc làm đó tại các tin nhắn bằng chứng đã nộp cho cơ quan công an.

Việc ông Trần Ngọc S ký vào hợp đồng đặt cọc là do bà T yêu cầu chứ thực tế ông S cũng như ông Đào Hồng Q chồng bà T đều không biết việc bà Y vay 450.000.000 đồng của bà T. Và trên thực tế thời điểm đó bà với ông S đã ly dị, ông S không liên quan tới việc vay tiền nêu trên. Nay bà Dương Thị Kim Y xác định bà T có đơn khởi kiện bà và ông Trần Ngọc S ra Tòa án nhân dân quận Ba Đình yêu cầu đòi lại tiền đặt cọc và phạt tổng cộng là 2 tỷ đồng, bà Dương Thị Kim Y đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi lại tiền đặt cọc của bà T vì bà không nhận tiền như giấy nhận tiền mà bà T lừa bà viết và ký.

Nếu bà T đòi số tiền 450.000.000 đồng ( số tiền không có giấy vay nợ do bà T đã xé) với lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/ngày theo như tin nhắn thể hiện thì bà T có hành vi cho vay nặng lãi vi phạm pháp luật. Nên nếu bà thời đòi lại số tiền 450.000.000 đồng tiền gốc, bà Y đồng ý trả, tuy nhiên số tiền lãi sẽ tính từ ngày 6/6/2019 đến nay theo quy định của pháp luật.

Tòa án đã mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, nguyên đơn bà Lê Thị T và ông Đào Hồng Q vắng mặt và đại diện của nguyên đơn không nắm rõ được bản chất vụ việc để làm việc, nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn trình bày: đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi lại tiền đặt cọc của nguyên đơn vì bị đơn không nhận được tiền như giấy nhận tiền đã ký ngày 6/6/2019 và hợp đồng đặt cọc đã ký là do nguyên đơn Lê Thị T lừa bị đơn viết và ký tên.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 270/2024/DS-ST, ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi tiền đặc cọc và phạt cọc của ông Đào Hồng Q và bà Lê Thị T đối với ông Trần Ngọc S và bà Dương Thị Kim Y.
  2. Huỷ hợp đồng đặt cọc ngày 06 tháng 06 năm 2019 được ký kết giữa hai bên nguyên đơn và bị đơn do lỗi thuộc về bị đơn.
  3. Bà Dương Thị Kim Y và ông Trần Ngọc S phải trả cho ông Đào Hồng Q và bà Lê Thị T số tiền 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng tiền đặt cọc và 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng tiền phạt cọc. Tổng cộng bà Dương Thị Kim Y và ông Trần Ngọc S phải thanh toán cho ông Đào Hồng Q và bà Lê Thị T số tiền là 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, thi hành án.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bà Dương Thị Kim Y là bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 270/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội với lý do là Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử sai sự thật, bà là người bị lừa.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn là bà Y. Đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 270/2024/DSST ngày 27/9/2024 của TAND quận Ba Đình.

Bị đơn bà Dương Thị Kim Y trình bày ý kiến đề nghị giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bà không hề nhận tiền của bà T, ông Q, không hề có việc đặt cọc mua bán đất giữa hai bên như bên nguyên đơn trình bầy. Bản chất là bà vay tiền của bà T, ông Q. Bà T có hứa cho bà vay 1.000.000.000 đồng nhưng phải ký hợp đồng đặt cọc tại phòng công chứng. Bà T hứa khi ký xong sẽ giao tiền, nhưng khi bà ký xong hợp đồng đặt cọc và giấy nhận tiền thì bà T lại không đưa tiền như thỏa thuận. Bà đã nhiều lần đòi tiền nhưng bà T không trả. Tất cả nội dung trên được thể hiện qua tin nhắn trên zalo mà bà đã gửi bản photo cho TAND quận Ba Đình. Nay do lâu ngày, bà sử dụng nhiều điện thoại nên tại phiên tòa hôm nay bà vẫn chưa xuất trình được bản gốc các tin nhắn zalo giữa hai bên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 270/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bị đơn là bà Dương Thị Kim Y đã nộp đơn kháng cáo và tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm trong thời hạn quy định của pháp luật nên được chấp nhận về mặt hình thức.

Tại phiên tòa, bị đơn là ông Trần Ngọc S đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 2 không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử theo quy định.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo toàn bộ bản án của bà Dương Thị Kim Y, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Ngày 06/06/2019 bà T, ông Q và bà Y, ông S đã ký kết hợp đồng đặt cọc về việc đảm bảo cho việc kí kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất đất đối với thửa đất số 348.351, tờ bản đồ số 01 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp, diện tích 4585,0 m² đất rừng sản xuất sử dụng đến ngày 15/10/2043, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 497983 địa chỉ tại thôn Đ, xã S, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Theo nội dung hợp đồng đặt cọc: bà Y, ông S nhận 1 tỷ đồng tiền đặt cọc của ông Q, bà T để đảm bảo cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất tại thửa đất trên. Thời gian thực hiện công việc: Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày hai bên ký hợp đồng đặt cọc này, bên Y, ông S phải tiến hành thủ tục ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm, cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận giữa hai bên có ký hợp đồng đặt cọc với nội dung trên. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy hợp đồng được ký kết giữa các chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Việc kí kết các Hợp đồng là sự tự nguyện giao kết của các bên. Nội dung điều khoản chính của hợp đồng không trái quy định của pháp luật. Vì vậy những hợp đồng này có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Ngày 06/06/2019, hai bên đã ký giấy nhận tiền với nội dung bên đặt cọc cam kết đã giao đủ tiền đặt cọc và bên nhận đặt cọc đã nhận đủ số tiền đặt cọc 01 tỷ đồng. Theo lời bà Y trình bày thì sau khi ký giấy nhận tiền bà T không đưa tiền cho bà, còn bà T thì cho rằng bà Y đã nhận tiền nhưng không ký Hợp đồng công chứng chuyển

nhượng nhà và đất cũng không trả lại tiền đặt cọc mua nhà và phí phạt cọc cho ông Q và bà T. Cả hai bên đều có đơn tố giác tội phạm gửi Công an quận C. Sau khi thụ lý đơn tố giác và điều tra thu thập chứng cứ thì Công an quận C ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự và xác định đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền Toà án giải quyết. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 14/05/2025, bà Y trình bày bà đề nghị tạm ngừng phiên tòa để cung cấp cho Tòa án các chứng cứ chứng minh việc bà chưa nhận tiền của bà T cũng như việc đặt cọc này không có thật, giữa bà T và bà Y chỉ là quan hệ vay nợ với nhau. Hội đồng xét xử đã ra quyết định tạm ngừng phiên tòa đến ngày 30/05/2025 để cho bà Y có thời gian cung cấp các tài liệu chứng cứ theo đề nghị của bà. Tuy nhiên đến phiên tòa ngày 30/05/2025, bà Y vẫn không đưa ra được căn cứ chứng minh bà T không giao 1 tỷ cho bà. Theo các chứng cứ thu thập được của Cơ quan điều tra Công an quận C (Lời khai và tin nhắn photocopy) thì không có căn cứ bà Y cho rằng chưa nhận được tiền đặt cọc 1 tỷ đồng. Hơn nữa, trong trường hợp nếu bà T không giao tiền đặt cọc cho bà Y thì bà Y phải tìm cách gặp bà T để giải quyết hoặc huỷ bỏ hợp đồng đặt cọc và giấy nhận tiền đặt cọc, báo cáo cơ quan chức năng, cơ quan công an để can thiệp giải quyết ngay tại thời điểm xảy ra vụ việc. Tuy nhiên cho đến khi bà T đưa đơn đến cơ quan công an quận C và khởi kiện ra Toà án thì bà Y mới trình bày không nhận được tiền cọc. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm nhận định lời trình bày của bà Y không có căn cứ để chấp nhận là có cơ sở.

Xét lỗi của việc không thực hiện được thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc: Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Y tại phiên tòa phúc thẩm cũng thừa nhận do bà không nhận được tiền hơn nữa việc đặt cọc này không có thật, nên bà không triển khai việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản cho bên bà T theo thỏa thuận tại điều 2 của hợp đồng đặt cọc. Như phân tích trên, lời trình bày của bà Y về việc không nhận được tiền là không có cơ sở chấp nhận. Trong khi đó, bà T xuất trình giấy nhận tiền thể hiện bà T đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giao tiền đặt cọc cho bà Y theo như thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định lỗi hoàn toàn do bị đơn và chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả nguyên đơn số tiền đặt cọc 1 tỷ đồng và phải vi phạm đặt cọc là 1 tỷ đồng. Tổng cộng bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 2 tỷ đồng là có cơ sở.

Việc Bà Y cho rằng: theo tin nhắn giữa hai bên, đây là khoản tiền vay và lãi mà bà phải trả cho bà T là 450.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy trong đối đáp tin nhắn chưa bao giờ bà T thừa nhận chưa thanh toán 1 tỷ đồng tiền đặt cọc cho bà Y hơn nữa các tin nhắn này chỉ có bản photo, bà Y không tìm được các tin nhắn này trên điện thoại của mình nên không đủ cơ sở để được chấp nhận. Do đó việc bà Y cho rằng đây là quan hệ vay nợ giữa bà Y với bà T là không có căn cứ.

Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn kháng cáo không đưa ra được các tài liệu, căn cứ gì để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không được chấp nhận. Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm như nội dung đã phân tích ở trên.

Quan điểm của Đại diện kiểm sát nhân dân thành phố H phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[3] Về án phí:

  • - Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
  • - Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 1 Điều 308, Điều 147, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 328, 116, 117, 401 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 270/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội và quyết định cụ thể như sau:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi tiền đặc cọc và phạt cọc của ông Đào Hồng Q và bà Lê Thị T đối với ông Trần Ngọc S và bà Dương Thị Kim Y.
  2. Huỷ hợp đồng đặt cọc ngày 06 tháng 06 năm 2019 được ký kết giữa hai bên nguyên đơn và bị đơn do lỗi thuộc về bị đơn.
  3. Bà Dương Thị Kim Y và ông Trần Ngọc S phải trả cho ông Đào Hồng Q và bà Lê Thị T số tiền 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng tiền đặt cọc và 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng tiền phạt cọc. Tổng cộng bà Dương Thị Kim Y và ông Trần Ngọc S phải thanh toán cho ông Đào Hồng Q và bà Lê Thị T số tiền là 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng.

Kể từ ngày người được Thi hành án có đơn xin thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về án phí:
    1. Về án phí dân sự sơ thẩm là: 72.000.000 đồng, buộc bị đơn là ông Trần Ngọc S và bà Dương Thị Kim Y chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Đào Hồng Q và bà Lê Thị T số tiền tạm ứng án phí 36.000.000 đ đã nộp theo biên lai thu

tiền số 0030216 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Dương Thị Kim Y phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Bà Y đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0030907 ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội nay chuyển thành án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - TAND quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Mai Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 394/2025/DS-PT ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp đòi tiền đặt cọc

  • Số bản án: 394/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Đòi tiền đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Đòi tiền đặt cọc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger