|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 394/2024/DS-PT Ngày: 17 - 6 - 2024
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Minh Tâm
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Minh
Ông Ngô Mạnh Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Hồng Quân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Phước Trung, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 782/2023/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1107/2024/QĐPT-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đặng Ngọc Đ, sinh năm 1961; Địa chỉ: Số A, khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đặng Ngọc Đ là: Ông Phạm Ngọc K, sinh năm 1993; Địa chỉ: B, khu dân cư M, khóm D, phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Lê Hồng Đ1 (vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Đặng Thanh V, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số A, khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đặng Thanh V là: Ông Nguyễn Quyết Q, sinh năm 1990; Địa chỉ: Số B, đường P, phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Thanh S, sinh năm 1968 (vắng mặt).
- Ông Đặng Tấn H, sinh năm 1970 (vắng mặt).
- Ông Đặng Hồng S1, sinh năm 1960; Địa chỉ: G AVE#3 Montreaal. Canada (vắng mặt).
- Ông Đặng Văn Đ2, sinh năm 1952; Địa chỉ: Số I, khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Ông Trần Văn P, sinh năm 1949; Địa chỉ: Khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Bà Trần Thị Tuyết T, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số C, ấp L, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Ông Trần Vũ Hồng C, sinh năm 1977; Địa chỉ: Tổ G, khóm V, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Bà Tô Thị Hồng K1, sinh năm 1959 (vắng mặt).
- Ông Đặng Hoàng T1, sinh năm 1988 (vắng mặt).
- Bà Đặng Thị Thanh L, sinh năm 1965; Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Ông Trần Đại H1, sinh năm 1981 (vắng mặt).
- Ông Trần Vũ Hoàng L1, sinh năm 1984 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1971; Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Ông Lê Minh S2, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số B, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1953 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số A, khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện ủy quyền của ông Đặng Hồng S1 là: Ông Nguyễn Quyết Q, sinh năm 1990; Địa chỉ: Số B, đường P, phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
Cùng địa chỉ: Khóm D, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
Cùng địa chỉ: Số A, tổ A, khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ đăng ký thường trú: Số I, khóm B, phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ liên lạc: Số A, đường T, khóm B, phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
- Bà Đặng Thị Ngọc T3, sinh năm 1970; Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Bà Đặng Thị Tố T4, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Bà Đặng Thị Ngọc T5, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khóm C, phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (vắng mặt).
- Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06/5/2022, ngày 03/6/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 03/4/2023 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn ông Đặng Ngọc Đ và người được ông Đ ủy quyền là ông Phạm Ngọc K trình bày:
Cụ Đặng Văn N và cụ Nguyễn Thị N1 là vợ chồng. Cụ N và cụ N1 có 10 con chung là: (1) ông Đặng Văn T6 chết năm 1991 có vợ tên Nguyễn Thị C1 và 03 con tên Đặng Thị Ngọc T3, Đặng Thị Ngọc T5, Đặng Thị Tố T4; (2) Đặng Văn Đ2; (3) Đặng Thị Thanh X chết năm 2010 có chồng là Trần Văn P và 04 con là Trần Thị Tuyết T, Trần Vũ Hồng C, Trần Đại H1, Trần Vũ Hoàng L1; (4) Đặng Hoàng M chết có vợ là Tô Thị Hồng K1 và con là Đặng Hoàng T1; (5) Đặng Hồng S1; (6) Đặng Thị Thanh L; (7) Đặng Ngọc Đ; (8) Đặng Thanh V; (9) Đặng Tấn H; (10) Đặng Thanh S. Ngoài ra không có ai khác thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ N1 và cụ N.
Lúc sinh thời một mình cụ N tạo lập ra tài sản gồm thửa đất số 483, diện tích 1.310m² loại đất lúa tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Theo giấy biên lai tạm số 67752 do tỉnh Cửu Long cấp ngày 24/3/1991. Cụ N1 chết năm 1979 không để lại di chúc. Cụ N chết năm 2012 có để lại di chúc vào ngày 04/11/1995 nội dung như sau: Cụ N có canh tác diện tích 1.310m² đất ruộng tại khóm D, thị trấn L theo giấy biên lai tạm số 67752, thửa số 483-2L cấp ngày 24/3/1991 của tỉnh Cửu Long. Nguyện vọng cụ N là cắt 1.310m² đất ruộng trên cho con trai cụ là ông Đặng Ngọc Đ coi như chính thức thừa kế di sản 1.310m² đất ruộng nêu trên sau khi cụ N chết. Di chúc này do bà Đặng Thanh V viết giùm có ông Đặng Thanh S, ông Đặng Tấn H là thành viên trong gia đình ký tên và được UBND thị trấn L chứng thực vào ngày 13/11/1995. Ông Đ xác định thửa đất số 483 là di sản của một mình cụ N chết để lại, vì do một mình cụ N tạo lập và kê khai đăng ký đứng tên biên lai tạm số 67752 do tỉnh Cửu Long cấp ngày 24/3/1991. Ngoài thửa đất này ra cụ N không còn để lại di sản nào khác.
Trên thửa đất này các em của ông Đ là ông Đặng Thanh S, ông Đặng Tấn H và bà Đặng Thanh V cùng nhau quản lý sử dụng. Nhưng thời gian gần đây bà V cùng chồng là ông Nguyễn Thanh T2 ngăn cản không cho ông S và ông H sử dụng thửa đất trên. Qua sự việc, ông tìm hiểu mới được biết bà V đã chuyển nhượng một phần đất của cụ N để lại cho một người khác. Theo ông được biết cha ông không tặng cho, không chuyển nhượng và không lập di chúc cho bà V thửa đất số 483, diện tích 1.310m² loại đất lúa. Khi hòa giải tại UBND thị trấn L thì ông biết được bà V bằng cách nào đó đã tách thửa 483 thành các thửa mới có diện tích như sau: Thửa 231, diện tích 210,8m²; thửa 232, diện tích 198,5m²; thửa 233, diện tích 1.190,8m²; thửa 13, diện tích 108m² tất cả đều là loại đất trồng cây lâu năm, cùng tờ bản đồ số 14; tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Tài sản trên đất tại các thửa: Tại thửa 233 có dừa 43 cây, bưởi 09 cây, mít 05 cây, xoài 05 cây, ổi 02 cây, tràm 01 cây, cà na 01 cây, cam 22 cây, sầu riêng 02 cây, nhãn 02 cây (trong đó có 13 cây dừa nhóm 2C do ông S1 bỏ tiền ra mua giống về cho ông H trồng. Còn lại các cây dừa nhóm 2A và tất cả các loại cây còn lại do ông H mua giống trồng); tại thửa 231 có dừa 10 cây, chuối 07 cây do ông H trồng; tại thửa 232 chỉ có cỏ mọc, không có cây trồng và tài sản trên đất; tại thửa 13 chỉ có nhà mồ trên đất ngoài không có cây trồng và tài sản trên đất.
Ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Đặng Văn N và bà Đặng Thanh V được Ủy ban nhân dân thị trấn L chứng thực số 53, quyển số 01TP/CC-SCT/HĐGD ngày 25/6/2007 đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
- Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đặng Thanh V và ông Lê Minh S2 đối với thửa đất số 232, tờ bản đồ số 14, diện tích 198,5m², loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chủ sử dụng Đặng Thanh V đối với các thửa đất 231, diện tích 210,8m²; thửa 232, diện tích 198,5m²; thửa 233, diện tích 1.190,8m²; thửa 13, diện tích 108m², cùng tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Vì đây là di sản của cha ông Đ là cụ Đặng Văn N chết để lại và có di chúc định đoạt phần di sản này cho ông Đ.
- Chia di sản thừa kế phần đất thửa 59, diện tích 1.803,0m² đã được tách thành các thửa mới và chuyển mục đích sử dụng như sau: Thửa đất 231, diện tích 210,8m²; thửa 232, diện tích 198,5m²; thửa 233, diện tích 1.190,8m²; thửa 13, diện tích 108m², đều là loại đất CLN (trước đây vào năm 1991 có số thửa cũ là thửa 483, diện tích 1.310m², loại đất lúa), cùng tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Chừa lại diện tích 300m² để làm nhà mồ, còn lại diện tích 1.408,1m² ông Đ yêu cầu chia đều cho 04 anh em của ông Đ gồm:
Đặng Ngọc Đ, Đặng Thanh S, Đặng Tấn H và Đặng Thanh V mỗi người nhận kỷ phần bằng hiện vật ¼ của diện tích 1.408,1m².
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Đặng Thanh V là ông Nguyễn Quyết Q trình bày:
Ông Q xác nhận, về quan hệ huyết thống và hàng thừa kế đúng như ông Đ và ông K đại diện của ông Đ đã trình bày.
Nguồn gốc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 11, diện tích 1.803m², loại đất lúa tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long của anh trai bà V là ông Đặng Hồng Sơn s ở CANADA bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng vào năm 1988 cho cha bà V là cụ Đặng Văn N đứng tên giùm được UBND huyện L cấp giấy CNQSD đất số 3688 QSDĐ/349 ngày 01/6/2004, sau đó cụ N chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất lúa thành đất vườn. Do cụ N đứng tên đất giùm ông S1 nên năm 2004 ông S1 về nước, giữa ông S1 và cụ N đến Phòng C2 tỉnh Vĩnh Long để làm văn bản xác nhận và cam kết việc chuyển giao quyền sử dụng đất được Công chứng viên chứng nhận vào ngày 18/6/2004 có nội dung: “Cụ N là người đại diện cho con trai là ông S1 về mặt hành chính, pháp lý trên giấy tờ còn mọi quyền năng định đoạt quyền sử dụng đất thuộc về con trai cụ là ông S1, cụ không được phép thực hiện bất kỳ một hành vi nào có tính chất làm chuyển dịch quyền sử dụng diện tích 1.803m² đất trồng lúa thửa 59, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại: Khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long như: Cầm cố, sang nhượng, thế chấp, cho tặng . . . người khác. Cụ N phải thực hiện ngay các hành vi cần thiết theo quy định của pháp luật để lập thủ tục pháp lý nhằm chuyển dịch quyền sử dụng đất diện tích 1.803m², thửa 59, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại: Khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long cho con trai cụ là ông S1 khi ông S1 có nhu cầu trực tiếp quản lý, sử dụng hoặc khi con trai cụ là ông S1 chuyển giao quyền sử dụng đất cho người khác như sang nhượng, cho tặng . . . vv, trong những trường hợp này quyền định đoạt thuộc về con trai cụ là ông S1, cụ không được quyền đặt ra bất cứ một điều kiện gì . . .” (bút lục 67-68).
Do cụ N không phải là chủ sử dụng thửa đất số 59 mà là người đứng tên giùm ông S1. Ông S1 tặng cho bà V thửa đất số 59 do cụ N đứng tên giùm, để hợp thức hóa về mặt giấy tờ tặng cho giữa ông S1 và bà V nên ông S1 yêu cầu cụ N và bà V đến Ủy ban nhân dân thị trấn L ký kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được chứng thực vào ngày 25/6/2007. Theo hợp đồng cụ N tặng cho bà V thửa đất số 59, tờ bản đồ số 11, diện tích 1.803m², loại đất vườn, tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Bà V được Phòng T7 huyện L xác nhận cho bà V đứng tên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 10/8/2007. Sau đó bà V làm thủ tục được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 11/8/2010. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà V làm thủ tục tách thửa 59 thành các thửa mới như sau: Thửa 231, diện tích 210,8m²; thửa 232, diện tích 198,5m²; thửa 233, diện tích 1.190,8m²; thửa 13, diện tích 108m² tất cả đều là loại đất
trồng cây lâu năm, cùng tờ bản đồ số 14. Ngày 08/10/2021 bà V và chồng là ông Nguyễn Thanh T2 ký kết hợp đồng chuyển nhượng cho ông Lê Minh S2 thửa 232, diện tích 198,5m² giá 150.000.000đ. Bà V và ông T2 đã nhận đủ tiền và giao đất cho ông S2 sử dụng. Trong trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà V, ông T2 và ông S2 bị vô hiệu. Bà V, ông T2 và ông S2 tự thỏa thuận với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 231, diện tích 210,8m²; thửa 233, diện tích 1.190,8m²; thửa 13, diện tích 108m² hiện nay bà V đang cất giữ, bà V không có thế chấp cho bất cứ tổ chức, cá nhân nào.
Do đất không phải là di sản của cụ N chết để lại nên bà V không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Trên đất tại các thửa có tài sản như sau: Tại thửa 233 có dừa 43 cây, bưởi 09 cây, mít 05 cây, xoài 05 cây, ổi 02 cây, tràm 01 cây, cà na 01 cây, cam 22 cây, sầu riêng 02 cây, nhãn 02 cây (tất cả các cây trồng trên thửa đất này do ông S1 bỏ tiền mua cây giống về bà V trồng); tại thửa 231 có dừa 10 cây, chuối 07 cây (tất cả các cây trồng trên thửa đất này do ông S1 và bà V trồng); tại thửa 232 chỉ có cỏ mọc, không có cây trồng và tài sản trên đất; tại thửa 13 chỉ có nhà mồ không có cây trồng và tài sản khác trên đất.
Trong trường hợp Tòa chia thừa kế thì cây trồng tại vị trí đất của ai được chia thuộc quyền sở hữu của người đó không yêu cầu bồi thường. Trong trường hợp Tòa không chia thừa kế thì cây trồng là của bà V không đồng ý bồi thường cho ông H.
Ông Nguyễn Quyết Q đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Hồng S1 trình bày:
Thửa đất số 59, tờ bản đồ số 11, diện tích 1.803m², loại đất lúa, tọa lạc: khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long là của ông S1 có nguồn gốc như sau: Năm 1988 ông S1 dùng tiền cá nhân nhận chuyển nhượng. Do ông Sơn s ở Canada nên không tiện đứng tên thực hiện các quyền và nghĩa vụ tại Việt Nam. Nên ông S1 nhờ cha là cụ Đặng Văn N đứng tên giùm để tiện việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong quá trình giữ gìn canh tác, việc thỏa thuận giữa ông S1 với cụ N được thực hiện bằng văn bản cam kết có chứng thực số 71 TP/CC – SCC/CK 18/6/2004. Trong quá trình cụ N thay ông S1 canh tác do có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng nên cụ N chuyển toàn bộ diện tích đất trên từ đất lúa thành đất trồng cây lâu năm.
Sau đó ông S1 tặng cho em gái là bà Đặng Thanh V thửa đất số 59, tờ bản đồ số 11, diện tích 1.803m², loại đất lúa, tọa lạc: khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Do cụ N không phải là chủ sử dụng thửa đất số 59 mà là người đứng tên giùm ông S1. Ông S1 tặng cho bà V thửa đất số 59 do cụ N đứng tên giùm, để hợp thức hóa về mặt giấy tờ tặng cho giữa ông S1 và bà V nên ông S1
yêu cầu cụ N và bà V đến đến Ủy ban nhân dân thị trấn L ký kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được chứng thực vào ngày 25/6/2007.
Quyền sử dụng thửa đất đang tranh chấp là tài sản của cá nhân ông S1, ông S1 đã cho em gái là bà V nên bà V có quyền sử dụng và định đoạt.
Ông Đặng Ngọc Đ khởi kiện yêu cầu chia thừa kế thửa đất này là hoàn toàn không có cơ sở. Ông không đồng ý việc khởi kiện chia thừa kế của ông Đ. Ông không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Trên đất tại các thửa có tài sản như sau: Tại thửa 233 có dừa 43 cây, bưởi 09 cây, mít 05 cây, xoài 05 cây, ổi 02 cây, tràm 01 cây, cà na 01 cây, cam 22 cây, sầu riêng 02 cây, nhãn 02 cây (tất cả các cây trồng trên thửa đất này do ông S1 bỏ tiền mua cây giống về bà V trồng); tại thửa 231 có dừa 10 cây, chuối 07 cây (tất cả các cây trồng trên thửa đất này do ông S1 và bà V trồng); tại thửa 232 chỉ có cỏ mọc, không có cây trồng và tài sản trên đất; tại thửa 13 chỉ có nhà mồ không có cây trồng và tài sản khác trên đất.
Trong trường hợp Tòa chia thừa kế thì cây trồng tại vị trí đất của ai được chia thuộc quyền sở hữu của người đó không yêu cầu bồi thường. Trong trường hợp Tòa không chia thừa kế thì cây trồng là của bà V không đồng ý bồi thường cho ông H. Vì cây này do bà V trồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Tấn H trình bày:
Ông H xác nhận, về quan hệ huyết thống và hàng thừa kế đúng như ông Đ và ông K đại diện của ông Đ đã trình bày.
Lúc sinh thời một mình cụ N tạo lập ra tài sản gồm thửa đất số 483, diện tích 1.310m² loại đất lúa tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Theo giấy biên lai tạm số 67752 do tỉnh Cửu Long cấp ngày 24/3/1991. Cụ N1 chết năm 1979 không để lại di chúc. Cụ N chết năm 2012 có để lại di chúc vào ngày 04/11/1995 nội dung như sau: Cụ N có canh tác diện tích 1.310m² đất ruộng ở khóm D, thị trấn L theo giấy biên lai tạm số 67752, thửa số 483-2L cấp ngày 24/3/1991 của tỉnh Cửu Long. Nguyện vọng cụ N là cắt 1.310m² đất ruộng trên cho con trai cụ là ông Đặng Ngọc Đ coi như chính thức thừa kế di sản 1.310m² đất ruộng trên sau khi cụ N chết. Di chúc này do bà Đặng Thanh V viết giùm có ông Đặng Thanh S, ông Đặng Tấn H là thành viên trong gia đình ký tên và được UBND thị trấn L chứng thực vào ngày 13/11/1995. Ông H xác định thửa đất số 483 là di sản của một mình cụ N chết để lại. Ngoài thửa đất này ra cụ N không còn để lại di sản nào khác.
Ông H xác định thửa đất số 483 trước đây vào năm 1991, sau đó đổi thành thửa 59 vào năm 2004 và nay tách thành các thửa mới 231,232,233,13 là di sản của cụ N chết để lại. Ông H thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông Đ, ông H xin nhận kỷ phần di sản của cụ N chết để lại theo yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Trên đất tại các thửa có tài sản như sau: Tại thửa 233 có dừa 43 cây, bưởi 09 cây, mít 05 cây, xoài 05 cây, ổi 02 cây, tràm 01 cây, cà na 01 cây, cam 22 cây, sầu riêng 02 cây, nhãn 02 cây (có 13 cây dừa nhóm 2C do ông S1 bỏ tiền ra mua giống về cho ông H trồng. Còn lại các cây dừa nhóm 2A và tất cả các loại cây còn lại do ông H mua giống trồng); tại thửa 231 có dừa 10 cây, chuối 07 cây do ông H trồng; tại thửa 232 chỉ có cỏ mọc, không có cây trồng và tài sản trên đất; tại thửa 13 chỉ có nhà mồ không có cây trồng và tài sản khác trên đất.
Trong trường hợp Tòa chia thừa kế thì ai được chia đất tại vị trí cây ông trồng thì phải trả giá trị lại cho ông H. Trong trường hợp Tòa không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế thì bà V phải trả lại giá trị cây trồng cho ông H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Minh S2 trình bày:
Ngày 08/10/2021 bà V và chồng là ông Nguyễn Thanh T2 ký kết hợp đồng chuyển nhượng cho ông Lê Minh S2 thửa đất 232, diện tích 198,5m² giá 150.000.000đ. Bà V và ông T2 đã nhận đủ tiền và giao đất cho ông S2 sử dụng. Trong quá trình sử dụng ông S2 đã chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm thành đất ở tại nông thôn, số tiền chuyển mục đích sử dụng là 86.794.125đ. Trong trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà V, ông T2 và ông S2 bị vô hiệu. Bà V, ông T2 và ông S2 tự thỏa thuận với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 232, diện tích 198,5m² hiện nay ông S2 đang cất giữ, ông S2 không có thế chấp cho bất cứ tổ chức, cá nhân nào.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tô Thị Hồng K1, bà Đặng Thị Thanh L, ông Đặng Thanh S, ông Trần Văn P, bà Đặng Thị Tố T4, bà Nguyễn Thị C1 và bà Đặng Thị Ngọc T3 trình bày:
Phần đất tranh chấp ông Đặng Ngọc Đ khởi kiện bà V yêu cầu chia thừa kế là của ông Đặng Hồng Sơn s ở Canada bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng nhờ cha ông S1 là cụ N đứng tên giùm, không phải là di sản của cụ N và cụ N1 chết để lại. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ chia thừa kế thì bà K1, bà L, ông S, ông P, bà T4, bà C1 và bà T3 đồng ý giao kỷ phần thừa kế của mình cho bà V và xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh T2 trình bày:
Ông là chồng của bà V và là em rể của ông Đ. Ông và bà V cưới nhau vào năm 2001, ông chỉ biết toàn bộ thửa đất ông Đ đang tranh chấp là của bà V. Do ông là chồng bà V nên đối với yêu cầu chia thừa kế của ông Đ, ông không có yêu cầu gì trong vụ án và xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Vũ Hồng C trình bày:
Ông không có yêu cầu gì trong vụ án này và xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Ngọc T5 từ chối không cung cấp lời khai và không đồng ý nhận văn bản tố tụng của Tòa.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:
Áp dụng các Điều 26, Điều 35, Điều 37, Điều 38, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 164, Điều 165, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 692, Điều 733 và Điều 734 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 106 Luật đất đai năm 2003; Điều 503, Điều 609, Điều 612 và Điều 643 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167 Luật đất đai năm 2013; Điều 2 Luật người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử;
1. Không chấp nhận toàn bộ khởi kiện của ông Đặng Ngọc Đ về các yêu cầu cụ thể như sau:
- Yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Đặng Văn N và bà Đặng Thanh V được Ủy ban nhân dân thị trấn L chứng thực số 53, quyển số 01TP/CC-SCT/HĐGD ngày 25/6/2007 đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
- Yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đặng Thanh V và ông Lê Minh S2 đối với thửa đất số 232, tờ bản đồ số 14, diện tích 198,5m², loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
- Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chủ sử dụng Đặng Thanh V đối với các thửa đất số 231, diện tích 210,8m²; thửa số 232, diện tích 198,5m²; thửa số 233, diện tích 1.190,8m²; thửa số 13, diện tích 108m², cùng tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
- Yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất 59, diện tích 1.803,0m² đã được tách thành các thửa mới là: Thửa 231, diện tích 210,8m²; thửa 232, diện tích 198,5m²; thửa 233, diện tích 1.190,8m²; thửa 13, diện tích 108m², đều là loại đất CLN, cùng tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về các chi phí tố tụng, án phí, các quy định về thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 27/9/2023 nguyên đơn ông Đặng Ngọc Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Đặng Ngọc Đ có đại diện theo ủy quyền là ông Phạm Ngọc K trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
theo hướng vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, chia thừa kế phần đất thửa 59 theo di chúc ngày 04/11/1995 của cụ Đặng Văn N để lại. Đối với văn bản năm 2004 của cụ N tặng cho đất bà V thì lúc đó cụ N đã gần 90 tuổi, mắt yếu, không còn minh mẫn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại việc tặng cho này.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là luật sư Lê Hồng Đ1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có gửi bản luận cứ bảo vệ. Luật sư Đ1 trình bày về nguồn gốc phần đất tranh chấp là từ chính sách “Nhường cơm sẻ áo” nên gia đình ông Đ được nhận đất từ năm 1978. Năm 1991 cụ N kê khai đăng ký và đến năm 1995 cụ N lập di chúc để lại toàn bộ phần đất cho ông Đ. Đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất năm 2004 giữa cụ N với bà V thì hợp đồng này là vô hiệu, bởi lẽ thời điểm đó cụ N không có đủ năng lực hành vi dân sự vì đã gần 90 tuổi, mắt yếu và bị gãy chân không đi lại được. Từ những căn cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Nguyễn Quyết Q trình bày không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật: Xét thấy, Thẩm phán chủ toạ phiên toà, các thành viên Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn xét xử phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới làm thay đổi bản chất vụ án. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Đặng Ngọc Đ làm trong hạn luật định, ông Đ là người cao tuổi được miễn nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện:
Nguyên đơn ông Đặng Ngọc Đ khởi kiện bị đơn bà Đặng Thanh V tranh chấp thửa đất số 59, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long và yêu cầu chia thửa kế. Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, vụ án còn trong thời hiệu khởi kiện, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh là có căn cứ, phù hợp quy định tại các Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 1 Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Đặng Ngọc Đ:
[3.1] Về yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Đặng Văn N và bà Đặng Thanh V được Ủy ban nhân dân thị trấn L chứng thực số 53, quyển số 01TP/CC-SCT/HĐGD ngày 25/6/2007:
Thửa đất số 59, tờ bản đồ số 11, có diện tích 1.803m², loại đất lúa tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, được UBND huyện L cấp giấy CNQSD đất số 3688 QSDĐ/349 ngày 01/6/2004 cho cụ Đặng Văn N đứng tên, sau đó cụ N chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất lúa thành đất trồng cây lâu năm.
Ngày 18/6/2004, tại Phòng C2 tỉnh Vĩnh Long, ông Đặng Hồng S1 và cụ Đặng Văn N có làm văn bản xác nhận với nội dung: “Cụ N là người đại diện cho con trai là ông S1 về mặt hành chính, pháp lý trên giấy tờ còn mọi quyền năng định đoạt quyền sử dụng đất thuộc về con trai cụ là ông S1, cụ không được phép thực hiện bất kỳ một hành vi nào có tính chất làm chuyển dịch quyền sử dụng diện tích 1.803m² đất thửa 59, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại: Khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long như: Cầm cố, sang nhượng, thế chấp, cho tặng . . . người khác. Cụ N phải thực hiện ngay các hành vi cần thiết theo quy định của pháp luật để lập thủ tục pháp lý nhằm chuyển dịch quyền sử dụng đất diện tích 1.803m², thửa 59, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại: Khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long cho con trai cụ là ông S1 khi ông S1 có nhu cầu trực tiếp quản lý, sử dụng hoặc khi con trai cụ là ông S1 chuyển giao quyền sử dụng đất cho người khác như sang nhượng, cho tặng . . . vv, trong những trường hợp này quyền định đoạt thuộc về con trai cụ là ông S1, cụ không được quyền đặt ra bất cứ một điều kiện gì . . .” (bút lục 67-68).
Ngày 25/6/2007, cụ Đặng Văn N và bà Đặng Thanh V ký kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, có chứng thực của Ủy ban nhân dân thị trấn L (bút lục 246), nội dung theo hợp đồng cụ N tặng cho bà V thửa đất số 59, tờ bản đồ số 11, diện tích 1.803m², loại đất vườn, tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Bà V được Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T7 chỉnh lý cho bà V đứng tên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 10/8/2007. Sau đó bà V làm thủ tục được Ủy ban nhân dân huyện L cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 11/8/2010. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà V làm thủ tục tách thửa 59 thành các thửa mới như sau: Thửa 231, diện tích 210,8m²; thửa 232, diện tích 198,5m²; thửa 233, diện tích 1.190,8m²; thửa 13, diện tích 108m² tất cả đều là loại đất trồng cây lâu năm, cùng tờ bản đồ số 14.
Nguyên đơn ông Đặng Ngọc Đ trình bày cho rằng thửa đất số 59, tờ bản đồ số 11, diện tích 1.803m², loại đất vườn, tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long là của cụ N chết để lại cho ông. Ông Đ xuất trình chứng cứ là tờ di chúc ngày 04/11/1995 của cụ N có nội dung: Cụ N có canh tác diện tích 1.310m² đất ruộng ở khóm D, thị trấn L theo giấy biên lai tạm số 67752, thửa số 483-2L cấp ngày 24/3/1991 của tỉnh Cửu Long. Nguyện vọng cụ N cắt 1.310m² đất ruộng trên cho con trai cụ là ông Đặng Ngọc Đ coi như chính thức thừa kế di sản 1.310m² đất ruộng nêu trên sau khi cụ N chết được UBND thị trấn L chứng thực vào ngày 13/11/1995.
Do giữa thửa đất theo di chúc và thửa đất ông Đ khởi kiện yêu cầu chia thừa kế có số cũ và số mới khác nhau nên Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành văn bản số: 172/TAT-DS_ngày_10/4/2023 và văn bản số: 326/TAT-DS ngày 21/6/2023 đề nghị UBND huyện L có văn bản trả lời cho Tòa án biết: Có phải theo Chương trình đất thửa số 483 (theo bản đồ giải thửa số thửa đất có thay đổi là 5, tờ bản đồ số 3), diện tích: 1310,0m², loại đất 2L, theo sổ mục kê ghi nhận Đặng Văn N đứng tên. Đến tư liệu 60/CP chuyển đổi thửa cũ 483 thành thửa mới là thửa số 59, tờ bản đồ số 11, diện tích: 1.803,0m², loại đất: Lúa do cụ Đặng Văn N đứng tên giấy chứng nhận quyền, được UBND huyện L ký cấp ngày 01/6/2004 không? Hay là thửa 483 và thửa 59 ở hai vị trí khác nhau? Tuy nhiên đến thời điểm xét xử sơ thẩm, UBND huyện L vẫn không có văn bản trả lời, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
Theo văn bản xác nhận và cam kết việc chuyển giao quyền sử dụng đất được Công chứng viên chứng nhận vào ngày 18/6/2004 cụ N xác định phần đất diện tích 1.803m² đất trồng lúa thửa 59, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại: Khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long cụ đứng tên giùm cho con trai cụ là ông S1. Cụ N không phải là chủ sử dụng thửa đất số 59 mà là người đứng tên giùm ông S1. Ông S1 tặng cho bà V thửa đất số 59 do cụ N đứng tên giùm, để hợp thức hóa về mặt giấy tờ tặng cho giữa ông S1 và bà V nên ông S1 yêu cầu cụ N và bà V đến Ủy ban nhân dân thị trấn L ký kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được chứng thực vào ngày 25/6/2007. Bà V kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai và được phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T7 xác nhận chỉnh lý cho bà V đứng tên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 10/8/2007. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ N và bà V có hiệu lực theo quy định tại Điều 692 Bộ luật dân sự năm 2005.
Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Đặng Ngọc Đ về vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Đặng Văn N và bà Đặng Thanh V được Ủy ban nhân dân thị trấn L chứng thực số 53, quyển số 01TP/CC-SCT/HĐGD ngày 25/6/2007 đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
[3.2] Về yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đặng Thanh V và ông Lê Minh S2 đối với thửa đất số 232, tờ bản đồ số 14, diện tích 198,5m², loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long:
Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà V làm thủ tục tách thửa 59 thành các thửa mới như sau: Thửa 231, diện tích 210,8m²; thửa 232, diện tích 198,5m²; thửa 233, diện tích 1.190,8m²; thửa 13, diện tích 108m² tất cả đều là loại đất trồng cây lâu năm, cùng tờ bản đồ số 14. Ngày 08/10/2021 bà V và chồng là ông Nguyễn Thanh T2 ký kết hợp đồng chuyển nhượng cho ông Lê Minh S2 thửa 232, diện tích 198,5m² giá 150.000.000đ. Bà V và ông T2 đã nhận đủ tiền và giao đất cho ông S2 sử dụng. Tại Công văn số: 1955/STNMT ngày 26/4/2023 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (bút lục 130) xác định việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/11/2021 cho ông Lê Minh S2 thửa 232, tờ bản đồ số 14, diện tích 198,5m² là thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 79 Nghị định số 43/2014/TT-BTNMT, ngày 15/5/2014. Từ đó có cơ sở xác định việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà V, ông T2 và ông S2 có hiệu lực theo quy định tại Điều 503 Bộ luật dân sự năm 2015.
Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Ngọc Đ về việc yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đặng Thanh V và ông Lê Minh S2 đối với thửa đất số 232, tờ bản đồ số 14, diện tích 198,5m², loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
[3.3] Về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chủ sử dụng Đặng Thanh V đối với các thửa đất 231, diện tích 210,8m²; thửa 232, diện tích 198,5m²; thửa 233, diện tích 1.190,8m²; thửa 13, diện tích 108m², cùng tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long:
Bà V là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 59 nên đã thực hiện thủ tục tách thành các thửa mới là thửa 231, diện tích 210,8m²; thửa 232, diện tích 198,5m²; thửa 233, diện tích 1.190,8m²; thửa 13, diện tích 108m², cùng tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, đúng theo quy định của pháp luật về đất đai. Do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Đ về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chủ sử dụng Đặng Thanh V đối với các thửa 231, diện tích 210,8m²; thửa 232, diện tích 198,5m²; thửa 233, diện tích 1.190,8m²; thửa 13, diện tích 108m², cùng tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
[3.4] Về yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần đất thửa 59, diện tích 1.803,0m²:
Như đã phân tích tại các mục [3.1], [3.2], [3.3], thửa đất số 59, diện tích 1.803,0m² là thuộc quyền sử dụng của ông Đặng Hồng S1 nhờ cha là cụ Đặng Văn N đứng tên giùm, không phải là di sản của cụ N chết để lại. Do đó không
có căn cứ chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông Đặng Ngọc Đ đối với thửa đất số 59, diện tích 1.803,0m² đã được tách thành các thửa mới là: Thửa 231, diện tích 210,8m²; thửa 232, diện tích 198,5m²; thửa 233, diện tích 1.190,8m²; thửa 13, diện tích 108m², đều là loại đất CLN, cùng tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
[4] Từ các phân tích, nhận định trên, xét thấy bản án sơ thẩm đã xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Ngọc Đ là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên toà phúc thẩm, ông Đ kháng cáo nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào mới làm thay đổi nội dung vụ án, do đó kháng cáo của ông Đ là không có căn cứ để chấp nhận.
Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Đặng Ngọc Đ là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Đặng Ngọc Đ. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Áp dụng các Điều 26, Điều 35, Điều 37, Điều 38, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 164, Điều 165, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 692, Điều 733 và Điều 734 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 106 Luật đất đai năm 2003; Điều 503, Điều 609, Điều 612 và Điều 643 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167 Luật đất đai năm 2013; Điều 2 Luật người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Không chấp nhận toàn bộ khởi kiện của ông Đặng Ngọc Đ về các yêu cầu cụ thể như sau:
- Yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Đặng Văn N và bà Đặng Thanh V được Ủy ban nhân dân thị trấn L chứng thực số 53, quyển số 01TP/CC-SCT/HĐGD ngày 25/6/2007 đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
- Yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đặng Thanh V và ông Lê Minh S2 đối với thửa đất số 232, tờ bản đồ số 14, diện tích 198,5m², loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
- Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chủ sử dụng Đặng Thanh V đối với các thửa đất số 231, diện tích 210,8m²; thửa số 232, diện tích 198,5m²; thửa số 233, diện tích 1.190,8m²; thửa số 13, diện tích 108m², cùng tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
- Yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất 59, diện tích 1.803,0m² đã được tách thành các thửa mới là: Thửa 231, diện tích 210,8m²; thửa 232, diện tích 198,5m²; thửa 233, diện tích 1.190,8m²; thửa 13, diện tích 108m², đều là loại đất CLN, cùng tọa lạc tại khóm D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
[2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho nguyên đơn ông Đặng Ngọc Đ.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Vương Minh Tâm |
Bản án số 394/2024/DS-PT ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận
- Số bản án: 394/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Ngọc Đỉnh
