TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 3938/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-8-2024
V/v: Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Minh Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Tâm
2. Ông Trần Đăng Vạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn T - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý: 1055/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4812/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5880/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị M, sinh năm 1983
Địa chỉ: 2 N, tổ F, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Lê Văn M1, sinh năm 1981
Địa chỉ: 2 N, tổ F, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
(Bà Võ Thị M có mặt; ông Lê Văn M1 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Võ Thị M trình bày: Bà Võ Thị M và ông Lê Văn M1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện S, tỉnh Quãng Ngãi theo Giấy chứng nhận kết hôn số 78, quyển số 01 ngày 10/10/2002. Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà M thường phát sinh mâu thuẫn do không có tiếng nói chung, vợ chồng không hợp nhau, không cùng quan điểm sống. Nay bà M không thể nào tiếp tục chung sống với ông M1 được nữa, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên bà M yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông M1.
Về con chung: Bà M yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Vũ Bảo T1, sinh ngày 13/11/2009. Bà M không yêu cầu ông M1 cấp dưỡng nuôi con. Con chung tên Lê Văn C, sinh năm 2003 đã trưởng thành.
Về tài sản chung: không có.
Về nợ chung: không có.
Bị đơn ông Lê Văn M1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà M.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Võ Thị M vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn M1 và yêu cầu được nuôi con chung tên Lê Vũ Bảo T1, sinh ngày 13/11/2009. Bà M không yêu cầu ông M1 cấp dưỡng nuôi con. Con chung tên Lê Văn C, sinh năm 2003 đã trưởng thành.
Bị đơn ông Lê Văn M1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Xác định đúng người tham gia tố tụng; Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể, về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị M được ly hôn với ông Lê Văn M1; Về con chung: giao bà M trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Vũ Bảo T1, sinh ngày 13/11/2009. Ghi nhận bà M không yêu cầu ông M1 cấp dưỡng nuôi con. Con chung tên Lê Văn C, sinh năm 2003 đã trưởng thành; Về tài sản chung và nợ chung: không có.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà M phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà M nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông M1, ông M1 cư trú tại phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Lê Văn M1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông M1.
[3] Xét yêu cầu của đương sự:
Bà M và ông M1 tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện S, tỉnh Quãng Ngãi cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 78, quyển số 01 ngày 10/10/2002 nên quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông M1 là hợp pháp.
Theo lời khai của bà M thì trong quá trình chung sống, vợ chồng bà M thường phát sinh mâu thuẫn do không có tiếng nói chung, vợ chồng không hợp nhau, không cùng quan điểm sống. Nay bà M không thể nào tiếp tục chung sống với ông M1 được nữa, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên bà M yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông M1.
Ông Lê Văn M1 không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà M.
Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình....Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau....”
Xét quá trình sống chung giữa đôi bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, hiện vợ chồng bà M và ông M1 không còn tình cảm với nhau, không còn sự quan tâm, chăm sóc nhau là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà M yêu cầu được ly hôn với ông M1 là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Căn cứ theo Giấy khai sinh số 100, quyển số 01 ngày 11/6/2003 và số 337, quyển số 02 ngày 22/12/2009 do Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện S, tỉnh Quãng Ngãi cấp thì bà M và ông M1 có 02 con chung tên Lê Văn C và Lê Vũ Bảo T1.
Bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Vũ Bảo T1 và không yêu cầu ông M1 cấp dưỡng nuôi con.
Xét, theo lời khai của bà M thì hiện nay cháu T1 đang sống chung với bà M và do bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Đồng thời, theo Tờ trình bày nguyện vọng thì cháu T1 có nguyện vọng được ở với bà M. Ông M1 cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của bà M.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà M, giao con chung tên Lê Vũ Bảo T1, sinh ngày 13/11/2009 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng.
Bà M không yêu cầu ông M1 cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: Bà M xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Bà M xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Võ Thị M phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào các Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị M được ly hôn với ông Lê Văn M1.
- - Về con chung: Bà M được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Vũ Bảo T1, sinh ngày 13/11/2009. Bà M không yêu cầu ông M1 cấp dưỡng nuôi con. Con chung tên Lê Văn C, sinh năm 2003 đã trưởng thành.
Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
- - Về tài sản chung: không có.
- - Nợ chung: không có.
- Về án phí: Bà Võ Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà M đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026309 ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Giấy chứng nhận kết hôn số 78, quyển số 01 ngày 10/10/2002 do Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện S, tỉnh Quãng Ngãi cấp cho bà Võ Thị M và ông Lê Văn M1 không còn giá trị pháp lý.
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Minh Hiếu |
Bản án số 3938/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 3938/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà M yêu cầu ly hôn với ông M, yêu cầu nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung không có. HĐXX chấp nhận yêu cầu bà M.
