Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số:393/2023/HSST

Ngày: 27-12-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Long

2. Bà Nguyễn Thị Thúy Mai

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh Chi, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Cảnh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 360/2023/TLST-HS, ngày 22 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 376/2023/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 12 năm 2023, đối với:

- Bị cáo: Phan Văn B; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1978

Nơi cư trú: Xóm LK, xã HN, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên,

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 03/10; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Phan Văn B1 (đã chết); Con bà: Đào Thị L, sinh năm 1943; Gia đình có 9 anh chị em, bị can là con thứ năm; Vợ: Hoàng Thị H, sinh năm 1978, Có 01 con sinh năm 2003.

Tiền án, Tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/10/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thái Nguyên (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến: Anh Bùi Công Đ, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố Tân Hương, phường Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 06 giờ 30 phút ngày 13/10/2023, tổ công tác của Công an phường ĐB, thành phố TN làm nhiệm vụ tại khu vực tổ dân phố GB của phường thì phát hiện một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác áp sát và yêu cầu kiểm tra, người đàn ông trên khai tên là Phan Văn B. Qúa trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong lòng bàn tay trái của B có 02 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng. B khai đó là Heroine vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt nguời pham tội quả tang đối với Bằng, thu giữ vật chứng theo quy định.

Hồi 14 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của Phan Văn B có khối lượng 0,137 gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắng trên cho vào bì niêm phong ký hiệu Al gửi giám định.

Tại kết luận giám định số 1211/KL-KTHS ngày 21/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, Khối lượng thu giữ ban dầu là 0,137 gam.

Tại cơ quan điều tra, Phan Văn B khai nhận: Khoảng 06 giờ ngày 13/10/2023, Bằng đi xe buýt từ khu vực DĐ thuộc thị trấn HT, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực phường ĐB, thành phố TN để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, B gặp và mua của một nguời phụ nữ không quen biết 02 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa Heroine với giá 200.000 đồng. Mua xong, B cầm gói ma túy ở trong lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi B đi đến khu vực thuộc tổ dân phố GB, phường ĐB thì bị tổ công tác của Công an phường ĐB phát hiện bắt quả tang như nêu trên.

Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN chờ xử lý.

Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số 363/CT-VKSTPTN, ngày 20/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Phan Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Phần luận tội tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 363/CT-VKSNDTP ngày 20/11/2023 đối với bị cáo Phan Văn B, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phan Văn B mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2

Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố TN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Văn B tại phiên toà là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Hồi 06 giờ 30 phút ngày 13/10/2023, tại khu vực Tổ dân phố GB, phường ĐB, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên, Phan VB có hành vi tàng trữ 0,137 gam chất ma tuý loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ Công tác của Công an phường ĐB, thành phố TN phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Nguồn gốc số ma túy trên theo B khai là mua của một người phụ nữ không quen biết tại khu vực phường ĐB (khu vực siêu thị ALOHA), thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên với số tiền là 200.000 đồng.

Hành vi tàng trữ trái phép 0,137 gam ma túy, loại Heroin, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân của Phan Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 363/CT-VKSTPTN ngày 20/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.

Điều 249 Bộ luật hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:.

c) Heroine .....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người, làm phát sinh các loại tội phạm khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vì nhu cầu của bản thân mà đi vào con đường phạm tội.

[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cần có mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

Mức án mà đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS, thì: “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tuy nhiên xét thấy bị cáo phạm tội không vì mục đích lợi nhuận, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án:

Nguồn gốc số ma túy loại Heroin, Phan Văn B khai mua một người phụ nữ không quen biết tại khu vực phường ĐB, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không đủ căn cứ để xác định người phụ nữ trên, nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.

[7]. Vật chứng vụ án:

Các bì niêm phong ký hiệu A1, A2 chứa ma túy và bao gói mẫu ban đầu là vật cấm lưu thông và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Về tội danh và hình phạt:

2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Văn B 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2023.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Phan Văn B 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa 0,120 gam ma túy loại Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định.

- 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu.

(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 55 ngày 13/12/2023 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).

4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phan Văn B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên
  • - Công an thành phố Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 393/2023/HSST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 393/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 15 tháng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger