TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 393/2024/DS-ST Ngày: 17-9-2024 V/v “tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Ngọc Tiến;
- Ông Lê Trọng Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương – Thư ký Toà án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thanh Trúc – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 419/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 482/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 243/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V.
Trụ sở: H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Địa chỉ liên hệ: Tầng A, Tòa nhà A, số I C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Đa Huỳnh H hoặc ông Trần Trung N (văn bản ủy quyền số 8488/2023/UQ-VPB ngày 07/11/2023) (có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn:
- Ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1980 (vắng mặt lần 2 không có lý do).
Địa chỉ: Số H, đường D, Tổ E, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số D đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 6 năm 2022 và bản tự khai, người đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Ngô Đa Huỳnh H trình bày: Căn cứ theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1907121523711/GDH/HĐTC ký ngày 17/7/2019, Ngân hàng TMCP V - Chi nhánh G (gọi tắt là V1) có cho ông Huỳnh Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 vay số tiền 275.000.000 đồng; Thời hạn vay 72 tháng, tính từ ngày 17/7/2019 đến ngày 17/7/2025; Mục đích sử dụng tiền vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô mới 100%, nhãn hiệu JAC 1025/X125TK, thùng kín, sản xuất năm 2018 phục vụ HKD tạp hóa; Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân 8.9%/năm, cố định trong 12 tháng đầu tiên, sau đó, lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng/01 lần. Mức điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 72 tháng được bên ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh, cộng biên độ điều chỉnh (+) là 3.2%/năm. Nếu trường hợp khách hàng không thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm, lãi suất cộng thêm 2%/năm theo thỏa thuận tại hợp đồng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay mua xe ô tô là 01 xe ô tô nhãn hiệu JAC, biển kiểm soát: 51D - 524.46, thế chấp theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1907121523711/GDH/HĐTC ký ngày 17/7/2019.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Huỳnh Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 đã trả cho ngân hàng tổng cộng là 64.318.198 đồng. Trong đó đã trả gốc 42.640.567 đồng và đã trả lãi 21.677.631 đồng.
Tuy nhiên, tính từ ngày 19/10/2020 ông Huỳnh Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận nên Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn.
Để đảm bảo thanh toán nợ vay, đề nghị Tòa án phát mãi tài sản thế chấp là 01 xe ô tô nhãn hiệu JAC, biển kiểm soát: 51D - 524.46, thế chấp theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1907121523711/GDH/HĐTC ký ngày 17/7/2019 thể thu hồi nợ.
Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán nợ vay, tuyên buộc ông Huỳnh Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V1 đến khi trả hết toàn bộ nợ vay tại Ngân hàng.
Tạm tính đến ngày 17/9/2024, ông H1 và bà H2 còn nợ V1 như sau:
- Nợ gốc: 232.359.433 đồng;
- Nợ lãi: 205.533.059 đồng;
- Tổng cộng: 437.892.492 đồng.
V1 đề nghị Tòa án giải quyết, buộc ông Huỳnh Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 phải thanh toán cho V1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/9/2024 là 437.892.492 đồng và tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 17/9/2024 cho đến khi ông H1 và bà H2 thanh toán xong nợ cho V1 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường hợp ông H1 và bà H2 không trả nợ hoặc trả không đầy đủ nợ thì V1 được quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp là: 01 xe ô tô nhãn hiệu JAC, biên kiêm soát: 51D - 524.46, thế chấp theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1907121523711/GDH/HĐTC ký ngày 17/7/2019 để thu hồi nợ cho V1. Nếu phát mãi tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì Huỳnh Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi trả xong nợ cho V1.
Trong bản tự khai đề ngày 17/9/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị H2 trình bày: Bà và ông H1 có mua xe trả góp tại Ngân hàng TMCP V. Ông H1 là người đứng tên trên giấy chứng nhận xe. Việc thanh toán trả góp và vận hành xe do ông H1 tự quản lý, sắp xếp. Từ tháng 10/2020 đến nay, bà không biết ông H1 đi đâu. Đối với tranh chấp của nguyên đơn bà yêu cầu chờ ông H1 về để giải quyết theo quy định pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Huỳnh Văn H1 nhưng ông H1 không nộp văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án. Tòa án cũng đã tiến hành nhiều phiên hòa giải nhưng không hòa giải được do vắng mặt các đương sự. Tại phiên tòa hôm nay, dù đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt xét xử lần 2 hợp lệ nhưng ông H1 vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP V buộc ông Huỳnh Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 phải trả nợ cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 232.359.433 đồng; về nợ lãi sẽ do Hội đồng xét xử xem xét, tính toán cụ thể kể từ ngày ông H1, bà H2 vi phạm đến ngày vụ án được đưa ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
1.1 Xét thấy nguyên đơn Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Huỳnh Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 phải trả tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng, đây là vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn có địa chỉ tại Quận A, Tp . nên theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Tp.
1.2 Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Ngô Đa Huỳnh H, bị đơn bà Nguyễn Thị H2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Huỳnh Văn H1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung khởi kiện, Hội đồng xét xử thấy rằng:
2.1 Căn cứ vào hợp đồng tín dụng xác định ông H1, bà H2 có vay của V1 và đã nhận đủ tiền. Kể từ khi nhận tiền vay cho đến thời điểm xét xử, ông H1, bà H2 mới thanh toán cho Ngân hàng một phần tiền gốc và lãi tổng cộng là 64.318.198 đồng, trong đó nợ gốc 42.640.567 đồng và nợ lãi 21.677.631 đồng.
Sau đó, ông H1, bà H2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết do đó có cơ sở xác định ông H1, bà H2 còn nợ ngân hàng số tiền gốc của hợp đồng tín dụng là 232.359.433 đồng.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Căn cứ Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Thống đốc Ngân hàng N1 hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng tiền đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, nên V1 là tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng là không trái pháp luật.
Căn cứ vào các hợp đồng cho vay giữa các bên, từ ngày ông H1, bà H2 không thanh toán lãi theo thỏa thuận thì ngân hàng chuyển toàn bộ nợ sang nợ quá hạn là có cơ sở để chấp nhận.
2.2 Về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp:
Hội đồng xét xử nhận định: Xe tải thùng kín, nhãn hiệu JAC, màu sơn: xanh mang biển kiểm soát số 51D-524.46 do ông Huỳnh Văn H1 đứng tên là chủ sở hữu theo giấy đăng ký xe ô tô do Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ Công an T cấp ngày 16/7/2019. Ông H1, bà H2 đã thế chấp tài sản trên cho V1 thông qua hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1907121523711/GDH/HĐTC ký ngày 17/7/2019, đăng ký giao dịch bảo đảm tại trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Tp . ngày 17/7/2019 theo đúng quy định pháp luật. Do đó khi ông H1, bà H2 không thanh toán thì tài sản trên sẽ được phát mãi để thi hành trả số tiền nợ là có căn cứ.
Từ những phân tích nêu trên, nguyên đơn TMCP Việt Nam V khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Huỳnh Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 phải trả cho Ngân hàng các khoản nợ trên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí: Bị đơn ông Huỳnh Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 phải chịu toàn bộ án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 91; khoản 3 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Điều 463; Điều 468; khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
Buộc bị đơn ông Huỳnh Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 có trách nhiệm trả một lần cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP V số tiền còn nợ là 437.892.492 (bốn trăm ba mươi bảy triệu, tám trăm chín mươi hai nghìn, bốn trăm chín mươi hai) đồng. Cụ thể:
- Nợ gốc: 232.359.433 đồng;
- Nợ lãi: 205.533.059 đồng;
- Tổng cộng: 437.892.492 đồng.
Ngay sau khi ông Huỳnh Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 thanh toán xong số tiền còn phải thi hành cho Ngân hàng TMCP V thì Ngân hàng có trách nhiệm thanh lý, giải chấp các hợp đồng liên quan đến số tiền nợ và hoàn trả toàn bộ bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp (nếu không còn thế chấp cho khoản vay nào khác) theo hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1907121523711/GDH/HĐTC ký ngày 17/7/2019, đăng ký giao dịch bảo đảm tại trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Tp . ngày 17/7/2019 giữa bên thế chấp là ông Huỳnh Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 với bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP V.
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật mà bị đơn ông Huỳnh Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 không trả hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm là xe tải thùng kín, nhãn hiệu JAC, màu sơn: xanh mang biển kiểm soát số 51D-524.46 do ông Huỳnh Văn H1 đứng tên là chủ sở hữu, giấy đăng ký xe ô tô do Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ Công an T cấp ngày 16/7/2019 theo hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1907121523711/GDH/HĐTC ký ngày 17/7/2019 để thu hồi nợ.
Thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
2. Về án phí: Bị đơn Huỳnh Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 21.515.700 (hai mươi mốt triệu năm trăm mười lăm nghìn bảy trăm) đồng. Ngân hàng TMCP V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 8.009.042 (tám triệu không trăm lẻ chín nghìn không trăm bốn mươi hai) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0020220 ngày 16/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Hiếu Hạnh |
Bản án số 393/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 393/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng V tranh chấp hợp đồng vay tài sản ông Huỳnh Văn H
