Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 393/2025/DS-PT

Ngày: 29/5/2025

V/v tranh chấp quyền sử đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Liên Anh Bà Nguyễn Thị Lan Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 617/2024/TLPT-DS ngày 16/12/2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án số 156/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện M bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 346/2025/QĐ-PT ngày 15/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 367/2025/QĐPT-HPT ngày 22/5/2025; giữa:

  • * Nguyên đơn:

    ông Nguyễn Thế L, sinh năm 1960; Địa chỉ: Thôn B, xã T, Huyện M, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; HKTT: số D đường Â, phường N, quận T, thành phố Hà Nội (văn bản ủy quyền ngày 19/9/2024). (Có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Luật sư Phạm Thị H1 - công ty L3 - Đoàn luật sư thành phố H. (Có mặt).

  • * Bị đơn:

    1. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1974;
    2. Ông Nguyễn Kim N, sinh năm 1972

    Cùng trú tại: Thôn B, xã T, Huyện M, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Kim N: Luật sư Lê Thị Khánh L1- Công ty L4 – Đoàn luật sư thành phố H. (Có mặt)

  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1965

    Địa chỉ: Thôn B, xã T Huyện M, thành phố Hà Nội; Người đại diện ủy quyền: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; HKTT: số D đường Â, phường N, quận T, thành phố Hà Nội (văn bản ủy quyền ngày 24/9/2024). (Có mặt).

    • Ông Nguyễn Kim M, sinh năm 1941

    Địa chỉ: Thôn B, xã T Huyện M, thành phố Hà Nội;

    (Vắng mặt).

    • Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1947
    • Anh Nguyễn Kim G, sinh năm 2003;

    Cùng địa chỉ: Thôn B, xã T Huyện M, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, các buổi làm việc tiếp theo cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: ông L có thửa ruộng đất nông nghiệp số 211 tờ bản đồ 06 tại xứ đồng Cửa Gáo, diện tích là 120m2 (Thuộc diện đất rau xanh, đất 10%), Đã được cấp GCNQSDĐ số CG641584 đã vào sổ GCN: CH do U cấp năm 2016; Địa điểm tại xóm G, thôn B xã T, Huyện M, Thành Phố Hà Nội. Tháng 1 Năm 1995 cụ Nguyễn Thị L2 (Là Thím vợ ông L) cùng con gái là Nguyễn Thị B (Bé) mới kết hôn chồng là Nguyễn Kim N, sinh năm 1972 (con nuôi ông Nguyễn Kim M), Người cùng địa phương; đến hỏi ông cho đổi thửa đất rau xanh của ông để cho con gái mượn dùng làm đất (ở tạm). Với tình cảm gia đình nên vợ chồng ông đồng ý đổi tạm thời (trao đổi bằng miệng) thửa đất của ông số 211 tờ bản đồ 06 diện tích 120m2; để lấy 120m2 đất trồng rau thuộc xứ đồng Soi Bạch Trữ tại một phần đất của thửa số: 827 và thửa 851 bản đồ số 01 thuộc đất của gia đình ông M (bố nuôi N) để gia đình ông canh tác, Tạo điều kiện giúp đỡ vợ chồng em N và B có nơi ở tạm (vì đây không phải là đất thổ cư). Mọi việc diễn ra bình thường; Khi đổi chị B có bù chênh lệch (vì đất Soi thấp phải cải tạo và đi làm đồng xa hơn) giữa đất S và đất Cửa G1 là 10 nồi thóc bằng 400kg thóc; thửa đất này hàng năm gia đình ông vẫn trực tiếp thực hiện nộp các khoản dịch vụ cho Hợp tác xã đầy đủ. Đến nay thửa đất này đã lọt giữa khu dân cư xóm T, thôn B có rất nhiều gia đình Đã dùng đất “Rau xanh 10%” để xây nhà ở, nên khoảng năm 1998 vợ chồng anh N đã xây nhà tạm bằng cột thép và tấm lợp (tôn và phibroxi măng); Khoảng năm 2006- 2007 vợ chồng anh N tự ý xây nhà ống khoảng 60m2 (nhà bê tông, xi măng xây gạch có gác sép), không hề có ý kiến trao đổi nào với ông L, gia đình ông đòi nhưng ông N, B chưa trả, vợ chồng con cái anh N dùng để ở cho đến nay. Năm 2021 vợ chồng anh N và chị B mâu thuẫn đã ra Tòa ly hôn, nay anh N còn định bán toàn bộ thửa đất và tài sản trên đất không có trao đổi với vợ chồng ông L. Từ sau khi đã ly hôn cho đến nay anh N thường xuyên đuổi mẹ con chị B, anh N còn có hành vi thách đố gia đình ông L; Trước sự việc trên ông L đã trả lại thửa đất diện Rau xanh trong Soi cho gia Đình ông M từ khoảng tháng 12 năm 2022. Ông

L đề nghị UBND xã T giải quyết anh N và chị B trả lại đất cho ông nhưng hòa giải không thành. Nay ông L đề nghị Tòa án giải quyết:

  • - Giao dịch đổi đất giữa ông Nguyễn Thế L với ông Nguyễn Kim M, ông Nguyễn Kim N, bà Nguyễn Thị B (Bé) là Vô Hiệu.

  • - Buộc ông Nguyễn Kim N và bà Nguyễn Thị B (Bé) phải trả lại toàn bộ 120 m2 đất rau xanh thửa số 211 bản đồ 06 cho gia đình ông.

  • - Buộc ông Nguyễn kim N và bà Nguyễn Thị B (Bé) phải tự tháo dỡ hết các công trình tự ý xây dựng trên thửa đất nhà ông; Hoặc phải chịu trách nhiệm chi trả toàn bộ chi phí tháo dỡ các công trình trên đất.

* Bị đơn ông N và bà B thống nhất trình bày: Khoảng tháng 6 năm 1995 do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, gia đình ông N đất trật không có điều kiện mua thêm đất, bố mẹ ông có 08 thước tức 192m2 mà có 03 cặp vợ chồng nên gia đình ông có đổi đất với gia đình ông Nguyễn Thế L, gia đình ông L đổi cho gia đình ông N 05 thước đất 10% tức 120m² để gia đình ông làm nơi ở và gia đình ông N trả ông L 05 thước đất ở xóm S và trả cho gia đình nhà ông L 10 nồi thóc (tức 400 kg thóc tẻ khô), do tiêu chuẩn của ông N chỉ có 2,5 thước = 60m2 nên bố ông N tức ông Nguyễn Kim M cho ông N 60m2 đất 10% ở khu S để ông N trả cho ông L đủ 120m2 và 10 nồi thóc với thời gian lâu dài (hai bên chỉ thỏa thuận bằng miệng chứ không có văn bản gì) gia đình ông N đã ở ổn định từ năm 1995, bản thân ông đã phải cải tạo, đổ đất, tôn cao làm nhà để sinh sống đến năm 2001, 2009 gia đình ông N, bà B đã xây nhà hai tầng một tum (năm 2001 xây tầng 1, năm 2009 xây tầng 2) và các công trình mới trên đất. Năm 2021 giữa ông N và bà B ly hôn, bà B vẫn ở thửa đất trên, khi thấy ông N và bà B ly hôn, gia đình nhà ông L lại đòi lại đất đã đổi cho gia đình ông từ năm 1995, việc ông L đòi lại như vậy là không hợp lý vì các bên đã đổi cho nhau xong. Năm 2023 ông L đã tự ý đến khóa cửa nhà ông N khiến gia đình ông không vào được nhà và còn đổ đất lấp lối đi ảnh hưởng cuộc sống của gia đình ông nghĩa. Thửa đất của nhà ông L mà hiện gia đình ông N đang làm nhà là đất rau xanh, gia đình ông L đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất của gia đình ông M, ông N đổi cho gia đình nhà ông L; ông M (bố ông N) đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2016, từ năm 2022 khi hai bên có mâu thuẫn, gia đình ông L đã trả lại ruộng cho gia đình ông M, nay ông L khởi kiện buộc phải trả lại đất, đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và bảo vệ quyền lợi cho ông, bà vì năm 1995 ông, bà phải trả gia đình nhà ông L 10 nồi thóc nên đề nghị giải quyết cho công bằng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông M trình bày: Ông M có thửa đất 10%, diện tích đất là 5 thước = 120 m² ở tại Khu Đ, nhà ông Nguyễn Thế L cũng có 120m² đất ở đồng C. Khoảng năm 1995 giữa gia đình ông M và gia đình ông L có sự đổi đất cho nhau, hai bên thỏa thuận bằng miệng chứ không có giấy tờ gì về việc đổi đất, thực tế gia đình ông M đã lấy thửa đất của ông L ở xứ đồng C, còn gia đình ông L lấy thửa đất của ông M ở khu S để làm màu, hai bên đã sử dụng thửa đất từ 1995 đến nay, ông M đã cho con trai là Nguyễn Kim N ở thửa đất trên, anh N đã làm nhà trên đất, từ trước đến nay hai bên không có tranh chấp gì, anh N chị B đã xây dựng nhà hai tầng và tum trên đất và ở từ đó đến nay các bên không có tranh chấp. Năm 2021 anh N và chị B ly hôn, bản thân chị B và các con vẫn đang ở tại thửa đất trên, nay ông L khởi kiện đòi lại thửa đất, ông M

không nhất trí vì các bên đã đổi cho nhau xong từ năm 1995, ông M cho con (N, B) ở và làm nhà. Thửa đất của gia đình ông M đổi cho ông L hiện nay ông M đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn thửa đất của gia đình ông L đổi cho gia đình ông M, ông L cũng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay mong Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L2 trình bày: Con gái bà là Nguyễn Thị B (Bé) có kết hôn với anh Nguyễn Kim N (con nuôi ông M) do con gái ở riêng không có đất ở nên bà bảo chị B1 đến hỏi và đổi đất rau xanh của gia đình ông M cho gia đình ông Nguyễn Thế L để lấy chỗ làm nhà ở, hai bên đổi cho nhau từ năm 1995 diện tích đổi đều là 120m² đất rau xanh ngoài ra gia đình ông M và anh N còn phải trả gia đình nhà ông L 10 nồi thóc tức bằng 400kg thóc tẻ khô, việc các bên đổi cho nhau chỉ bằng miệng không có văn bản giấy tờ gì. Hai bên đã sử dụng từ năm 1995, bà là người trực tiếp bảo con gái đến hỏi gia đình nhà ông L để đổi đất lấy chỗ ở, nay ông L khởi kiện anh N, chị B, đề nghị tòa án giải quyết bảo vệ quyền lợi cho mẹ con chị B.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà N1 trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Thế L, vợ chồng bà có thửa ruộng đất nông nghiệp số 211 tờ bản số 6 thuộc xứ đồng cửa Gáo có diện tích 120m² gia đình đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG641584 đã vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH do UBND huyện M cấp năm 2016. Thửa đất trên khoảng tháng 01/1995 bà Nguyễn Thị L2 (là thím của bà N1) cùng con gái Nguyễn Thị B (tức bé) lấy anh N con ông M có đến hỏi gia đình cho đổi thửa đất rau xanh để mượn dùng làm đất ở tạm cho vợ chồng Nghĩa B2. Việc đổi chỉ bằng miệng, gia đình bà lấy thửa đất số 827+851 tờ bản đồ số 01 của gia đình ông M (bố nuôi anh N), gia đình ông M có trả chênh lệch cho gia đình bà 400kg thóc tẻ. Việc hai bên chỉ đổi tạm cho nhau, năm 2006 vợ chồng anh N đã xây nhà ống khoảng 60m² mà không hỏi ý kiếm vợ chồng bà. Năm 2021 anh N chị B2 ly hôn, mẹ con chị B2 vẫn ở tại thửa đất trên. Năm 2023 anh N và ông M đuổi mẹ con chị B2 ra khỏi thửa đất trên và muốn bán thửa đất của bà, nay bà đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Thửa đất số 211 tờ bản đồ số 6 diện tích 120m², năm 2016 gia đình bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với thửa đất số 827+851 tờ bản đồ số 01 của gia đình ông M (bố nuôi anh N) năm 2016 gia đình ông M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh G trình bày: Anh là con của bố N mẹ B2, việc đổi đất của bố mẹ như thế nào anh không biết, từ khi anh lớn nên vẫn ở thửa đất này. Nay đề nghị tòa án xem xét giải quyết theo quy định.

Tại bản án số 156/2024/DS-ST Ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội đã xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Thế L.
  2. Tuyên bố giao dịch đổi đất đối với thửa đất số 211, tờ bản đồ số 06, diện tích 120m² tại xứ đồng C, thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội giữa hộ ông Nguyễn Thế L và hộ ông Nguyễn Kim M, ông Nguyễn Kim N, bà Nguyễn Thị B bị vô hiệu.
  3. Buộc hộ ông Nguyễn Kim M, ông Nguyễn Kim N, bà Nguyễn Thị B tháo dỡ toàn bộ nhà cửa và các công trình xây dựng trên thửa đất số 211, tờ bản đồ số 06, tại xứ đồng C để trả lại hộ ông Nguyễn Thế L thửa đất số 211, tờ bản đồ số 06, diện tích 120 m² tại xứ đồng Cửa Gáo, địa chỉ thửa đất tại thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Theo Giấy CNQSDĐ số CG641584, số vào sổ cấp GCN: CH năm 2016 do UBND huyện U cấp cho hộ ông Nguyễn Thế L, đất có diện tích 120 m², (theo bản đồ đo đạc năm 2005 là thửa số 894, tờ bản đồ số 30, diện tích 145,9 m²).
  4. Buộc hộ ông Nguyễn Thế L có trách nhiệm trả cho hộ ông Nguyễn Kim M, ông Nguyễn Kim N, bà Nguyễn Thị B một phần đất tại thửa số 827 (40m²) và thửa số 851 (80m²), tổng diện tích 120 m² cho hộ ông Nguyễn Kim M (ông L đã trả từ cuối năm 2022 không còn sử dụng). Buộc hộ ông Nguyễn Thế L có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Kim N, bà Nguyễn Thị B 10 nồi thóc tẻ = 400kg thóc tẻ khô (do khi đổi ông N bà B là người trả thóc cho ông L).
  5. Xác định giao dịch đổi đất giữa hộ ông Nguyễn Thế L và ông Nguyễn Kim M, ông Nguyễn Kim N, bà Nguyễn Thị B năm 1995 hai bên cùng có lỗi dẫn đến giao dịch vô hiệu, không bên nào phải bồi thường cho bên nào.

Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm ngày 04/10/2024 ông Nguyễn Thế L có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 156/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội. Không đồng ý trả cho ông N, bà B 400kg thóc tẻ.

Ngày 03 và ngày 05 tháng 10 năm 2024 ông Nguyễn Kim N, bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Kim M kháng cáo toàn bộ bản án số 156/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội. Đề nghị hủy toàn bộ bản án giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Thế L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

Các đương sự xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác xuất trình cho Tòa án.

Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn sau khi tóm tắt nội dung vụ án và phân tích có quan điểm: Việc đổi đất giữa các bên chỉ là tạm đổi cho nhau để tiện cho việc canh tác và trông nom, nên sau khi đổi các bên vẫn đóng thuế và các khoản thu khác đối với phần đất mình được giao và làm các thủ tục kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2016 cả hai gia đình đều được ủy ban nhân dân huyện U cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất được giao.

Khi đổi đất do đất của gia đình bị đơn trũng nên bị đơn phải bù cho nguyên đơn 400kg thóc để nguyên đơn tôn cao ruông lên, chứ đây không phải là tiền mà bị đơn thanh toán trả cho nguyên đơn.

Từ những căn cứ trên đề nghị hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm chấp nhận yêu

cầu khởi kiện của Nguyên đơn và nguyên đơn không phải thanh toán trả cho bị đơn 400kg thóc.

Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Bị đơn sau khi tóm tắt nội dung vụ án và phân tích có quan điểm: Việc đổi đất giữa hai bên là có thật sau khi đổi đất các bên đã sử dụng ổn định và gia đình bị đơn đã làm nhà trên đất để ở. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay ông bà B, ông N, ông M đều vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nên coi như bà B, ông N, ông M từ bỏ quyền kháng cáo, nên đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu kháng cáo của bà B, ông N, ông M.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thế L. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm; Về án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thế L, ông Nguyễn Kim N, ông Nguyễn Kim M và bà Nguyễn Thị B làm trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.

Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay và Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Kim N, ông Nguyễn Kim M đều vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nên coi như ông N, bà B, ông M đã từ bỏ yêu cầu kháng cáo, do vậy đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu kháng cáo của bà B, ông N, ông M.

Về người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự trong vụ án. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bị đơn là bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Kim N; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Kim M, bà Nguyễn Thị L2, anh Nguyễn Kim G đều vắng mặt. Ông Nguyễn Kim N có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do sức khỏe và có xuất trình sổ khám bệnh tuy nhiên theo sổ khám bệnh của phòng khám Đ thì ngày 29/5/2025 ông N có đến khám tại bệnh viện H2 kết quả chẩn đoán thiểu năng tuần hoàn não, thoái hóa đốt sống cổ, nhưng không có chỉ định điều trị; Còn bà Nguyễn Thị B cũng có đơn xị hoãn phiên tòa với lý do bị bỏng, tuy nhiên bà B chỉ xuất trình bản photo phiếu khám bệnh của phòng khám A. Xét thấy lý do xin hoãn của ông N, bà B đều không thuộc trường hợp bất khả kháng theo quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2].Về nội dung: Hội đồng xét xử xét thấy: Các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện nguồn gốc thửa đất số 211, tờ bản đồ số 06, diện tích 120 m² tại xứ đồng Cửa Gáo là loại đất 10% (đất rau xanh) của hộ gia đình ông Nguyễn Thế L; Nguồn

gốc thửa đất số 827 và 851, tờ bản đồ số 01 tại xứ đồng Soi là loại đất 10% (đất rau xanh) của hộ gia đình ông Nguyễn Kim M. Năm 1995 hộ ông L và ông M đổi đất cho nhau (đổi bằng miệng), hộ ông M lấy thửa đất số 211, diện tích 120 m² của ông L và ông L lấy một phần đất tại thửa số 827 (40m²) và thửa số 851 (80m²) của ông M, gia đình ông M phải trả cho gia đình ông L 10 nồi thóc tẻ = 400kg thóc tẻ khô (bà B, ông Nghĩa là người trả). Hai bên gia đình đã sử dụng phần diện tích đất ruộng đã đổi từ 1995.

Theo nguyên đơn trình bày thì: việc đổi đất chỉ là tạm thời, nên sau khi đổi đất các bên vẫn đóng thuế và nộp các khoản thu đối với phần diện tích mà mình được giao. Năm 2016 Ủy ban nhân dân huyện U đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hai hộ đối với phần diện tích đất được giao. Năm 2022 các bên xảy ra tranh chấp ông L đã trả ruộng cho ông M, nay ông L yêu cầu ông N, bà B phải trả lại thửa đất đã đổi.

Theo bị đơn trình bày thì: Sau khi đổi ruộng cho ông L, ông M cho ông N, bà B sử dụng để làm nhà cấp 4 ở từ 1995, đến khoảng 2006 ông N, bà B xây dựng nhà kiên cố ở đến năm 2021 ông N, bà B ly hôn.

Theo cung cấp của Hợp tác xã thôn B và Ủy ban nhân dân xã T thì: Thửa đất số 211, tờ bản đồ số 06, diện tích 120m² tại xứ đồng Cổng Gáo là đất 10% của hộ gia đình ông L, quá trình sử dụng đất hộ ông L có nộp đầy đủ các khoản dịch vụ cho Hợp tác xã. Theo bản đồ đo đạc năm 2005 thể hiện là thửa đất số 894, tờ bản đồ số 30, diện tích 145,9 m², loại đất ONT ghi tên Nguyễn Kim N + B, việc các bên đổi đất cho nhau địa phương không nắm được. Năm 2016 hộ ông Nguyễn Thế L đã được Ủy ban nhân dân huyện U cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG641584, số vào sổ cấp GCN: CH không ghi ngày, tháng, thể hiện năm đối với thửa đất số 211, tờ bản đồ số 06, diện tích 120m² tại xứ đồng C.

Thửa đất số 827 và 851, tờ bản đồ số 01 tại xứ đồng Soi là đất 10% của hộ gia đình ông M, quá trình sử dụng đất hộ ông M có nộp đầy đủ các khoản dịch vụ cho Hợp tác xã. Ngày 28/12/2016 hộ ông Nguyễn Kim M đã được UBND huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG190463, số vào sổ cấp GCN: CH02631 do UBND tại thửa số 851 diện tích là 80 m² và thửa số 827 diện tích là 283,0 m². Theo bản đồ địa chính đo đạc năm 2005 được thể hiện tại thửa 393, tờ bản đồ số 20, diện tích 313,1 m² đứng tên ông Nguyễn Kim M + Gái, ngoài ra còn có thửa số 392, diện tích 125,2 m² đứng tên Ủy ban nhân dân xã Q.

Sổ theo dõi thực tế sử dụng đất và đăng ký sử dụng đất của Hợp tác xã D, xã T lưu trữ thể hiện: hàng năm hộ ông Nguyễn Thế L nộp phí dịch vụ sử dụng đất 10% (120m²) đối với thửa đất số 211, tờ bản đồ 06 tại xóm G, thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; hộ ông Nguyễn Kim M nộp phí dịch vụ sử dụng đất đối với thửa đất số 851+827, tờ bản đồ 01 tại xứ đồng Soi, thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

Tại biên bản xác minh về việc nộp thuế và các sản phẩm liên quan, Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội khẳng định: Hợp tác xã không thu tiền đất nông nghiệp mà chỉ thu các khoản dịch vụ xã hội (thủy nông tưới tiêu, giao thông thủy lợi nội đồng, bảo vệ sản xuất, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và bảo vệ thực vật, tu sửa kênh mương nội đồng); gia

đình ông Nguyễn Thế L nộp đầy đủ phí dịch vụ sử dụng, trong đó có diện tích đất 10% (120m²) đối với thửa đất số 211, tờ bản đồ 06 tại xứ đồng cửa Gáo, thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; gia đình ông Nguyễn Kim M nộp đầy đủ phí dịch vụ sử dụng, trong đó có diện tích đất 363m² thuộc thửa đất số 827+851, tờ bản đồ 01 tại xứ đồng Soi, thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

Xét thấy, việc hai bên đổi đất cho nhau (bằng miệng) không có văn bản giấy tờ gì, không được cơ quan có thẩm quyền xác nhận. Các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện sau khi đổi đất gia đình ông L vẫn nộp thuế và các khoản thu khác của thửa đất số 211, tờ bản đồ 06 tại xứ đồng cửa Gáo, thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Năm 2016 hộ gia đình ông L được Ủy ban nhân dân huyện U cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 211, tờ bản đồ 06 tại Xứ đồng cửa Gáo, thôn B, xã T, huyện M, Hà Nội. Năm 2016 hộ gia đình ông M cũng được Ủy ban nhân dân huyện U cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 827 và 851, tờ bản đồ số 01 tại xứ đồng Soi. Như vậy hai bên đều đã được UBND huyện M cấp Giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất được giao ban đầu.

Xét thấy, theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật dân sự năm 1995 quy định về Hình thức giao dịch dân sự “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Trong trường hợp pháp luật có quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải được Công chứng nhà nước chứng nhận, được chứng thực, đăng ký hoặc phải xin phép, thì phải tuân theo các quy định đó”. Tại Điều 33 Luật Đất đai năm 1993 quy định: “1- Khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho phép thay đổi mục đích sử dụng đất hoặc đang sử dụng đất mà chưa đăng ký thì người sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan Nhà nước quy định tại khoản 2 Điều này. Người đang sử dụng đất tại xã, phường, thị trấn nào thì phải đăng ký tại xã, phường, thị trấn đó.

2- Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn lập và quản lý sổ địa chính, đăng ký vào sổ địa chính đất chưa sử dụng và sự biến động về việc sử dụng đất”.

Điều 139 của Bộ luật dân sự năm 1995 quy định Giao dịch dân sự do không tuân thủ quy định về hình thức thì bị vô hiệu; Điều 701 của Bộ luật dân sự năm 1995 quy định Hình thức chuyển đổi quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản. Theo quy định tại Điều 119 của Bộ luật dân sự năm 2015 cũng quy định: “Giao dich dân sự ... phải được công chứng, chứng thực...”.

Tuy nhiên, xét thấy từ khi các bên đổi đất cho nhau đến nay các bên vẫn không báo cáo với chính quyền địa phương để được điều chỉnh và đăng ký theo quy định; Việc chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa các bên không làm thủ tục và đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai. Sau khi đổi đất cho đến nay các bên vẫn kê khai và nộp các khoản thu đối với phần diện tích đất mình được giao. Năm 2016 các bên đều đã được ủy ban nhân dân huyện U cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của mình được giao. Từ những căn cứ trên Tòa án cấp sơ thẩm xác định giao dịch đổi đất giữa ông L và ông M bị vô hiệu là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

* Về giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu: Hội đồng xét xử xét thấy,

Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 qui định: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu, thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; trường hợp không hoàn trả được bằng hiện vật, thì phải hoàn trả bằng tiền... Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”. Do vậy buộc hộ ông M (ông N, bà B người đang trực tiếp sử dụng thửa đất) phải trả ông L thửa đất số 211, tờ bản đồ số 06, diện tích 120m² tại xứ đồng Cổng Gáo. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG641584, số vào sổ cấp GCN: CH năm 2016 do UBND huyện U cấp cho hộ ông Nguyễn Thế L (theo bản đồ đo đạc năm 2005 là thửa số 894, tờ bản đồ số 30, diện tích 145,9 m²). Ông L phải trả lại cho ông M một phần đất tại thửa số 827 (40m²) và thửa số 851 (80m²), tổng diện tích 120 m² của ông M (ông L đã trả từ cuối năm 2022 không còn sử dụng). Quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay các đương sự đều xác nhận tại thời điểm đổi đất ông nghĩa, bà B là người trả cho ông L 10 nồi thóc tẻ = 400kg thóc tẻ khô, nên buộc ông L phải có trách nhiệm trả cho gia đình ông N, bà B 10 nồi thóc tẻ tương đương 400kg thóc tẻ khô.

Đối với nhà và các công trình ông N, bà B đã xây dựng trên thửa đất số 211, tờ bản đồ số 06. Xét thấy, theo quy đinh tại Điều 42 Luật Đất đai năm 1993 quy định: “Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp”. Do đó việc ông N, bà B đổ đất tôn nền và xây dựng các công trình trên thửa đất số 211, tờ bản đồ số 06 là trái với quy định của pháp luật, nên buộc ông N, bà B phải tháo dỡ các công trình ông bà đã xây dựng trên thửa số 211, tờ bản đồ số 06 tại xứ đồng Cửa Gáo thôn B, xã T để trả lại đất cho ông L.

Từ những phân tích trên xét thấy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các đương sự.

Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nên được chấp nhận.

Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Bị đơn không phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ nên không được chấp nhận.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ, nên được chấp nhận.

* Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên các đương sự phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên ông Nguyễn Kim M là người cao tuổi nên miễn toàn bộ án phí cho ông M.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; Điều 296; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

  • - Điều 30, 33, 34, 42 Luật Đất Đai năm 1993; Điều 106, 126 Luật Đất Đai năm 2003; Điều 100 Luật Đất Đai năm 2013;
  • - Điều 130,131,133,139,701 Bộ luật dân sự năm 1995; Căn cứ Điều 116,117,119,129,131 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Quyết định số 30/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND thành phố H; Nghị Định số 91/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của chính phủ;
  • - Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; 147, 165, 227, 228, 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Nghị Quyết số 326/UBTVQH-14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 156/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội.
  2. Về án phí phúc thẩm: Sung công quỹ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí của ông Nguyễn Kim N, bà Nguyễn Thị B theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008976 ngày 04/10/2024; 0008981 ngày 09/10/2024 của chi cục thi hành án dân sự huyện M, thành phố Hà Nội.

    Ông Nguyễn Thế L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí các ông đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008979 ngày 04/10/2024 của chi cục thi hành án dân sự huyện M, thành phố Hà Nội.

    Miễn toàn bộ án phí cho ông Nguyễn Kim M.

    Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND huyện M ;
  • - Chi cục THADS huyện M ;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGÔ TUYẾT BĂNG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 393/2025/DS-PT ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 393/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn Nguyễn Thế L và bị đơn Nguyễn Thị B, Nguyễn Kim N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger