Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 393/2024/HS-PT

Ngày: 13/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Nam;

Các Thẩm phán: Ông Bùi Xuân Trọng.

Bà Hoàng Thị Bích Hải.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lê - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Tiến - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 13 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 866/2023/TLPT-HS ngày 15 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Vũ H và bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Giết người”; do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 52/2023/HS-ST ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

* Bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Vũ H, sinh năm 1986; Nơi cư trú: số nhà B đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: 12/12; bố Nguyễn Văn H1 (là bị cáo trong vụ án); mẹ Nguyễn Thị M, sinh năm 1966; vợ Trịnh Mai H2, sinh năm 1989; bị cáo có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2021); gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 07/3/2022; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.
  2. Họ và tên: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1959; nơi cư trú: số nhà B đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu; văn hóa: 10/10; bố Nguyễn Văn G, mẹ Vũ Thị P (đều đã chết); vợ Nguyễn Thị M, sinh năm 1966; bị cáo có 02 con, đều đã thành niên; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2022; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.

· Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Vũ H: Luật sư Nguyễn Văn N - Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh B.

Địa chỉ: A đường C, phường H, Tp., Bắc Giang. Có mặt.

· Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H1: Luật sư Nguyễn Duy T - Văn phòng L1 và cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh B.

Địa chỉ: B L, phường D, Thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.

* Bị hại có kháng cáo: Anh Lương Văn Q, sinh năm 1988.

Địa chỉ: TDP M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1986.
  2. Địa chỉ: thôn P, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

  3. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1966.
  4. Địa chỉ: Số nhà B đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.

* Người làm chứng:

  1. Cháu Nguyễn Vũ H, sinh năm 2007.
  2. Người giám hộ cho cháu H là chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1986.

    Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội.

  3. Anh Trần Khắc P1, sinh năm 1987.
  4. Địa chỉ: Thôn M, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.

  5. Anh Trần Quốc T1, sinh năm 1987.
  6. Địa chỉ: Số nhà I, ngõ G, đường V, tổ C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

  7. Anh Trần Văn T2, sinh năm 1966.
  8. Địa chỉ: số A, ngõ B đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

  9. Chị Lý Thị Y, sinh năm 1994.
  10. Địa chỉ: thôn A, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  11. Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1993.
  12. Địa chỉ: thôn P, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội.

  13. Anh Bùi Đăng P2, sinh năm 1964.
  14. Địa chỉ: T, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

(Tất cả những những người làm chứng đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H1 có khu Văn phòng bất động sản, bên trong là khu nhà trọ cho thuê tại địa chỉ số D đường X, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Năm 2017, H1 cho chị Nguyễn Thị H3 thuê phòng trọ trong khu nhà trọ nêu trên. Quá trình chị H3 thuê nhà thì có quan hệ tình cảm với H1. Khoảng tháng 5/2021, H1 xây dựng nhà mới trong khu nhà trọ chị H3 thuê thì trả công cho chị H3 3.000.000 đồng/1 tháng để chị H3 trông coi quản lý toàn bộ khu nhà trọ cho H1. Đến cuối năm 2021, H1 phát hiện chị H3 có quan hệ tình cảm với anh Lương Văn Q nên H1 đã đòi tiền thuê nhà và đuổi không cho chị H3 thuê trọ nữa. Khoảng 20 giờ ngày 06/3/2022, H1 điều khiển xe mô tô mang theo 01 con dao có một lưỡi sắc kích thước (27,5x7,7)cm, chuôi dao bằng gỗ dài 13,1cm, đường kính 3,3cm để trong cốp xe đến khu nhà trọ để tìm gặp chị H3 nhưng chị H3 không có ở nhà. H1 dùng búa đập, tháo dỡ dây phơi quần áo mục đích không cho chị H3 sử dụng. H1 gọi ông Trần Văn T2 đến treo biển báo trước cửa phòng của chị H3 với nội dung: Phòng trọ của chị H3 là của Văn phòng bất động sản. Khi đang treo biển thì Nguyễn Vũ H (là con trai của H1) đi xe mô tô của H đến treo biển cùng ông T2. Sau khi treo biển xong thì H điều khiển xe mô tô đến nhà bố vợ là ông Trịnh Đức Đ trú tại số B, ngõ A, đường Á, phường T, thành phố B lấy 01 con dao nhọn (dạng dao mèo), có tổng chiều dài 44cm, lưỡi dao dài 28cm, rộng 5cm, gắn chuôi gỗ bọc kim loại màu vàng dài 16cm, dao có vỏ bằng gỗ cài ở vị trí để chân xe mô tô của H rồi đi đến nhà bạn là anh Trần Quốc T1 trú tại số I, ngõ G, đường V, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang ngồi chơi.

Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, chị H3 về phòng trọ thì gặp H1, giữa chị H3 và H1 xảy ra cãi vã, chửi nhau. Thấy vậy, ông T2 gọi điện cho H về khu nhà trọ. Một lúc sau, thì anh Lương Văn Q (là bạn trai của chị H3) cùng với ông Đặng Văn P3 cũng đi xe taxi đến khu nhà trọ, Quyền có mang theo 01 chiếc túi xách (loại túi đựng cần câu). H trông thấy nghĩ là Q mang theo hung khí đến để đánh nhau nên H gọi điện cho anh T1. Anh T1 mang theo 01 gậy bóng chày bằng kim loại có chữ “BAT” và 01 chiếc ô màu xanh đã bị gãy đi đến khu nhà trọ. Tại khu vực sân trước cửa khu nhà trọ, anh Q với chị H3 tiếp tục cãi vã, đôi co với H1 và H. H1 yêu cầu chị H3 trả tiền thuê nhà và không cho ở trọ nữa. Anh Q và chị H3 yêu cầu H1 đưa ra căn cứ chứng minh việc chị H3 chưa trả tiền, nếu không thì chị H3 sẽ không trả tiền, không rời đi. Trong lúc đang cãi nhau thì H chạy ra chỗ xe mô tô của mình lấy con dao mèo lao vào chém anh Q nhưng bị trượt. H chém tiếp nhát thứ hai về phía chị H3 nhưng không trúng, chị H3 bỏ chạy vào phòng ngủ đóng cửa lại. H tiếp tục cầm dao đuổi theo anh Q vào phòng khách. H đứng ở giữa phòng khách, còn anh Q chạy vào trong phòng ngủ của con chị H3 lấy 01 con dao nhọn có chiều dài 85,5cm, phần lưỡi kim loại cong có 3 lỗ khuyết dài 42cm, bản rộng 5cm, chuôi dao bằng gỗ dài 43,5cm màu đen, hai bên lao vào chém nhau liên tiếp nhiều nhát. H bị anh Q chém 01 nhát trúng vào vùng đầu cổ bên trái. Trong lúc H cầm dao rượt đuổi anh Q vào trong

nhà, thì H1 cũng chạy ra xe mô tô lấy con dao đuổi theo vào phòng khách. Khi H và anh Q đang chém nhau thì H1 cũng xông vào chém anh Q 3-4 nhát vào lưng thì bị rơi dao. H1 tiếp tục túm giữ được dao của anh Q để H tiếp tục chém vào người anh Q. H1 giằng co, lôi kéo Q ra ngoài sân nhà trọ thì hai người cùng ngã ra sân. Khi anh Q ngã ở tư thế nằm ngửa và bị H1 giằng giữ thì H tiếp tục xông vào đâm chém liên tiếp nhiều nhát vào người anh Q. Lúc này, H1 giằng được dao của anh Q và cùng với H chém liên tiếp vào người của anh Q cho đến khi anh Q bị thương nằm bất tỉnh tại sân. H dùng dao của anh Q gõ vào người anh Q để kiểm tra xem anh Q bất tỉnh thật hay không, sau đó mới dừng lại. Hậu quả anh Q bị nhiều thương tích ở vùng đầu và toàn thân; H bị thương ở cổ, vai trái; H1 bị thương tích ở tay do khi giằng co dao với anh Q. Sau đó, H1, H vứt dao lại hiện trường tự điều khiển xe mô tô đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B để sơ cứu vết thương. Anh Q được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B.

Khám nghiệm hiện trường:

Xác định nơi xảy ra vụ việc tại Văn phòng Bất động sản số D đường X, phường T, thành phố B tỉnh Bắc Giang. Hướng Đông Bắc là ngách đi ra đường Xương Giang và nhà văn hóa tổ Q2; hướng Tây Nam là Công ty V1; hướng Đông Nam là Công ty T4; hướng T là dãy nhà trọ và các kiot bán xe máy, xe đạp điện và đường Xương Giang.

Khuôn viên Văn phòng bất động sản có 01 cổng ra vào hướng Đông Bắc, kích thước (4,9x2,5)m gồm 3 cánh cổng bằng kim loại mở vào trong, tường bao hướng Đông Bắc bằng gạch cao 2,4m. Phía bên trong khuôn viên được bố trí: Tại góc phía Tây khuôn viên, đối diện cổng ra vào là 01 nhà cấp 4 lợp tôn của chị Nguyễn Thị H3 thuê trọ; tiếp giáp về phía Đông Nam nhà cấp 4 là dãy nhà để xe, sau đó đến dãy phòng cho thuê trọ của ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1959 ở phía Đông và Đ khuôn viên. Trước mặt nhà cấp 4, sát cổng ra vào là 01 sân gạch kích thước (11,2x6)m, trước mặt nhà để xe và dãy nhà trọ là 01 sân bê tông kích thước (6,5x2,5)m, các sân được lợp mái tôn. Nhà trọ của chị H3 có 01 cửa chính và 01 cửa lách hướng Đông Bắc, trước cửa chính có bậc tam cấp. Cửa chính kích thước (2,6x1,9)m gồm 02 cánh cửa kính thủy lực; cửa lách kích thước (1,1x2,1)m gồm 01 cánh bằng kim loại mở vào trong. Bên trong nhà được thiết kế gồm: 01 phòng ngủ có nhà vệ sinh ở hướng Đ; 01 phòng ngủ ở hướng Tây; 01 nhà tắm vệ sinh ở hướng Bắc; ở trung tâm là 01 phòng lớn làm phòng khách- phòng bếp, cửa lách thông vào khu vực bếp, cửa chính thông vào khu vực phòng khách, kích thước gian phòng lớn này là (7,5x5,5) m.

Thu giữ dấu vết, mẫu vật niêm phong gồm: Mẫu dấu vết màu nâu đỏ tại các vị trí ký hiệu số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8; 02 khẩu trang y tế màu trắng tại vị trí số 1, 7; 01 con dao tại vị trí số 4 và 01 vỏ dao bằng gỗ tại vị trí số 9. (BL 57-76).

Ngày 06/3/2022, ông Trần Văn T2 giao nộp: 01 con dao nhọn có chiều dài 44 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại có chiều dài 28cm, bề mặt lưỡi dao có bám dính chất màu nâu đỏ, có mặt rộng 5cm, có gắn chuôi bằng gỗ chiều dài 16cm, được quấn bằng kim loại màu vàng; 01 con dao nhọn có chiều dài 85,5cm có lưỡi dao bằng kim loại dài 42cm, có mặt rộng 5cm, lưỡi dao cong, có 3 lỗ khuyết, trên bề mặt lưỡi dao có bám dính chất màu nâu đỏ, chuôi dao làm bằng gỗ dài 43,5cm màu đen; 01 gậy bóng chày bằng kim loại có chữ “BAT” và 01 chiếc ô màu xanh đã bị gãy. Cùng ngày bà Nguyễn Minh P4 (là dì của H) giao nộp: 01 chiếc áo khoác nhãn hiệu “Adidas” màu đen kẻ sọc trắng ống tay bên trái bám dính nhiều vế màu nâu đỏ (dạng máu); 01 chiếc quần lót màu xanh dương đã qua sử dụng; 01 chiếc áo cộc tay màu xanh dương, bám dính nhiều vết màu nâu đỏ (dạng máu), áo bị cắt đứt phần áo phía trước; 01 quần soóc màu đen nhãn hiệu “Dolce$GaBBana” bám dính nhiều vết màu nâu đỏ (dạng máu); 01 chiếc quần thun dài màu xám bám dính nhiều vết màu nâu đỏ dạng máu và 01 chiếc áo phao màu xám nhãn hiệu “Uniqlo” bám dính nhiều vết màu nâu đỏ dạng máu. (BL 77-81).

Ngày 07/3/2022, chị Nguyễn Thùy A (con gái Nguyễn Văn H1) giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu ghi bạc lắp sim số 0977.846.058 do Nguyễn Văn H1 nhặt được của anh Q đánh rơi tại hiện trường, H1 không biết điện thoại của ai nên đã đưa cho chị Thùy A để giao nộp cho cơ quan điều tra. (BL 85).

Ngày 07/3/2022, Nguyễn Văn H1 đầu thú tại Cơ quan điều tra Công an tỉnh B và giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax lắp sim số 0982.959.393. Cùng ngày Nguyễn Vũ H bị Cơ quan điều tra Công an tỉnh B giữ người trong trường hợp khẩn cấp. (BL 400; 450-452; 531-537).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 612 ngày 25/4/2022 của Trung tâm pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh Lương Văn Q là 48%. Cơ chế, vật gây thương tích: Các thương tích do vật sắc gây nên. (BL 357-360).

Tại Bản kết luận giám định về pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y – Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Vũ H là 16%. Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích do vật sắc gây nên. (BL 350-351).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số 670 ngày 25/5/2022 của Trung tâm pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Vũ H là 24%. Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích vết sẹo cẳng tay trái do chà sát gây nên. (BL 366-367).

Tại Bản kết luận giám định số 480 ngày 31/3/2022 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:

  • - Trên 01 áo khoác phao màu xám; 01 quần thun dài, máu xám; 01 áo khoác màu đen, ông tay áo bên trái có kẻ sọc màu trắng, nhãn hiệu Adidas; 01 chiếc quần soóc màu đen nhãn hiệu “Dolce & GaBBana”; 01 chiếc quần lót màu xanh dương có máu người, thuộc nhóm máu A; 01 con dao dài 44 cm, chuôi dao bằng gỗ dài 16 cm có quấn tấm kim loại màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại dài 28 cm, rộng 5 cm; 01 con dao dài 40,6cm, chuôi dao bằng gỗ dài 13,1 cm, rộng 3,3 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 27,5 cm, rộng 7,7cm; 01 con dao dài 85,5 cm, chuôi dao bằng gỗ, màu đen dài 43,5 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 42 cm, rộng 5 cm, lưỡi dao cong, có 03 lỗ khuyết; 01 chiếc ô; 02 khẩu trang y tế màu trắng; Mẫu dấu vết màu nâu đỏ thu tại hiện trường vị trí số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 đều có máu người, thuộc nhóm máu A.
  • - Trên 01 gây bóng chày gửi giám định có máu người, không xác định được nhóm máu do lượng máu quá ít, chất lượng kém.
  • - Mẫu máu của Nguyễn Văn H1 thuộc nhóm máu O. Mẫu máu của Lương Văn Q và mẫu máu của Nguyễn Vũ H gửi giám định cùng thuộc nhóm máu A.

Thương tích của bị cáo Nguyễn Văn H1:

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể tại Bệnh xá Công an tỉnh B xác định: Mặt trên giữa đốt ngón trỏ bàn tay trái có 01 vết thương rách da có bám dính máu đã khô, kích thước (0,5x0,5)cm; mặt giữa đốt ngón tay bàn tay trái có 01 vết thương rách da trầy xước kích thước (2x1,5)cm; mặt giữa đốt ngón nhẫn bàn tay trái có 01 vết thương rách da kích thước (2x0,1)cm. Thương tích của H1 nêu trên là do khi giằng co với anh Q bị lưỡi dao cứa vào tay, không có yêu cầu đối với thương tích nêu trên. (BL 402).

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 52/2023/HS-ST ngày 07/7/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 17; Điều 54; Điều 57; Điều 58; Điều 38 BLHS.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ H 08 năm tù về tội “Giết người”, thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2022.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 17; khoản 2 Điều 54; Điều 57; Điều 58; Điều 38 BLHS.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 05 năm tù về tội “Giết người”, thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2022.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, trách nhiệm dân sự và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 19/7/2023, bị cáo Nguyễn Văn H1 có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt và đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị hại Lương Văn Q.

Ngày 20/7/2023, bị cáo Nguyễn Vũ H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt, giảm bồi thường, đề nghị truy tố bị hại Quyền, tăng mức bồi

thường của bị hại đối với bị cáo H.

Ngày 11/7/2023 bị hại Nguyễn Văn Q1 có đơn kháng cáo về 4 nội dung, anh Q1 cho rằng trong vụ án này bị bỏ lọt tội phạm (đối với Trần Văn T2, Trần Quốc T1), đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung, làm rõ hành vi cướp tài sản là điện thoại di động đối với bị cáo Nguyễn Văn H1; việc xác định thương tích chưa đúng; quyết định hình phạt đối với cả hai bị cáo là quá nhẹ, bồi thường thiệt hại quá thấp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Vũ H và bị cáo Nguyễn Vũ H4 tự nguyện rút toàn bộ nội dung đơn kháng cáo; bị hại Lương Văn Q giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Quan điểm của các Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Vũ H và bị cáo Nguyễn Văn H1: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Vũ H và bị cáo Nguyễn Vũ H4 tự nguyện rút toàn bộ nội dung đơn kháng cáo đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc tự nguyện rút đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Vũ H và bị cáo Nguyễn Vũ H4, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với hai bị cáo. Sau khi phân tích nội dung vụ án thấy rằng trong vụ án này bị hại Lương Văn Q cũng có một phần lỗi trong việc sẩy ra vụ án; luật sư nêu ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới tại cấp phúc thẩm như tại phiên tòa hôm nay gia đình hai bị cáo xuất trình biên lai nộp tiền bồi thường cho bị hại và biên lai nộp tiền án phí sơ thẩm của bị cáo Nguyễn Vũ H; như vậy bị cáo H4 đã nộp toàn bộ tiền bồi thường cho bị hại và bị cáo H đã nộp 1 phần tiền bồi thường cho bị hại và đã nộp xong tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm. Vì vậy đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm giải quyết vụ án:

Về việc tuân thủ các quy định của HĐXX phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đã tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo, căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn H1 và bị cáo Nguyễn Vũ H.

Xét kháng cáo của bị hại Lương Văn Q thấy rằng các nội dung kháng cáo như nêu trên của bị hại Q là không có căn cứ, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị hại giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký; quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Căn cứ các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, kháng cáo của các bị cáo, của bị hại đều trong hạn và đúng thủ tục luật định, đủ điều kiện xem xét theo trình tự phúc thẩm

[3] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy những người này đã có lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Văn H1, Nguyễn Vũ H đã tự nguyện rút toàn bộ nội dung đơn kháng cáo, hội đồng xét xử thấy việc rút kháng cáo của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn H1 và bị cáo Nguyễn Vũ H.

[4] Xét kháng cáo của bị hại Lương Văn Q, có 4 nội dung: Anh Q cho rằng trong vụ án này bị bỏ lọt tội phạm (đối với Trần Văn T2, Trần Quốc T1), đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung, làm rõ hành vi cướp tài sản là điện thoại di động đối với bị cáo Nguyễn Văn H1; việc xác định thương tích chưa đúng; quyết định hình phạt đối với cả hai bị cáo là quá nhẹ, bồi thường thiệt hại quá thấp.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên toà các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và Kết luận giám định của cơ quan chuyên môn có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/3/2022 tại khu vực nhà trọ địa chỉ số D đường X, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, do mâu thuẫn trong việc thuê nhà trọ giữa Nguyễn Văn H1 với chị Nguyễn Thị H3 (là bạn của anh Lương Văn Q) dẫn đến hai bên cãi chửi nhau. Nguyễn Vũ H và Nguyễn Văn H1 đã dùng dao đâm, chém nhiều nhát vào vùng đầu, người cho đến khi anh Q bất tỉnh. Hậu quả làm anh Lương Văn Q bị đa vết thương trên cơ thể, tổn thương 48% sức khỏe; anh Q không chết là do được cấp cứu kịp thời. Hành vi phạm tội của H, H1 thuộc trường hợp chưa đạt nhưng có tính chất côn đồ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố các bị cáo phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo về từng nội dung của bị hại Lương Văn Q:

[4.1] Về nội dung Q cho rằng cơ quan điều tra bỏ lọt hành vi của một số đối tượng khác như Trần Văn T2, Trần Quốc T1 cũng có hành vi đồng phạm với các bị cáo (H và H1), tại phiên tòa phúc thẩm Hội đồng xét xử đã xét hỏi các bị cáo, các bị cáo khai rằng T2 và T1 không tham gia cùng các bị cáo trong việc

cãi nhau, không có hành vi giúp sức cho các bị cáo đâm chém bị hại Quyền, mà còn có hành vi can ngăn việc đâm chém nhau giữa bị cáo và bị hại, mặt khác Quyền không có các tài liệu nào chứng minh việc T1 và T2 cùng các bị cáo chém Quyền, do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại Lương Văn Q về nội dung này.

[4.2] Về nội dung bị hại Q cho rằng bị cáo Nguyễn Văn H1 có hành vi cướp điện thoại di động hiệu VIVO do trong lúc đánh nhau bị rơi ra, H1 mang về nhà thay sim khác, sau bị bắt con gái H1 nộp cho Cơ quan điều tra, đây là hành vi cướp tài sản. Xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm Hội đồng xét xử đã xét hỏi bị cáo H1, H1 khai rằng sau khi đánh nhau H1 nhặt được điện thoại tại hiện trường, H1 không biết của ai và cũng không sử dụng đã đưa cho con gái nộp cho Cơ quan điều tra ngày 07/3/2022, quá trình điều tra cho thấy bị cáo H1 không có dùng vũ lực để tấn công anh Q để lấy điện thoại, do đó không có căn cứ để khẳng định bị cáo H1 có hành vi cướp tài sản chiếc điện thoại như nội dung Quyền kháng cáo

[4.3] Về nội dung anh Q cho rằng, tỷ lệ thương tích do hành vi phạm tội của bị cáo H1 gây ra cho Quyền tổng số thực tế có 36 thương tích, nhưng kết quả giám định chỉ có 31 thương tích còn thiếu 5 thương tích nên kết quả giám định là chưa chính xác. Hội đồng xét xử xét thấy sau khi có kết quả giám định, Cơ quan điều tra đã thông báo cho bị hại biết về kết quả Giám định thương tích nhưng anh Q không có khiếu nại về nội dung này, tại phiên tòa phúc thẩm anh Q khai còn thiếu 05 thương tích chưa giám định nhưng không có căn cứ chứng minh cho việc còn thiếu các thương tích này, vì vậy không có căn cứ chấp nhận nội dung này.

[4.4] Về nội dung anh Q cho rằng mức hình phạt mà Bản án sơ thẩm tuyên phạt đối với các bị cáo là quá thấp, mức bồi thường cũng quá thấp. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân tỉnh Bắc Giang đã căn cứ các nguyên nhân dẫn đến cuộc ẩu đả, đâm chém lẫn nhau giữa bị cáo và bị hại, xét vai trò của từng bị cáo, xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, mặt khác trong vụ án này anh Q cũng có một phần lỗi trong việc đánh nhau với các bị cáo, để từ đó quyết định hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp. Về trách nhiệm dân sự nhận thấy Bản án sơ thẩm đã áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự, để buộc bị cáo H1 và bị cáo H phải liên đới bồi thường các khoản tiền tổn thất về tinh thần, tiền điều trị tại bệnh viện, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe, tiền thu nhập bị mất do phải nằm viện, tổng các khoản tiền phải bồi thường cho bị hại Lương Văn Q là 200.655.358 đồng là có căn cứ đúng quy định của pháp luật; bởi vậy nội dung kháng cáo của bị hại không có căn cứ chấp nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại Lương Văn Q là có căn cứ.

Quan điểm bào chữa cho bị cáo của luật sư nêu trên là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Xác nhận:

Tại phiên tòa phúc thẩm, gia đình bị cáo Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H5 đã xuất trình các biên lai thu tiền sau:

Bị cáo Nguyễn Văn H1 (do Nguyễn Thị M nộp thay) đã nộp 20.262.143 đồng (Hai mươi triệu, hai trăm sáu mươi hai ngàn, một trăm bốn mươi ba đồng), nội dung: Nộp tiền bồi thường theo quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2023/HSST ngày 07/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, tại Biên lai thu tiền số 0000938 ngày 08/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

Bị cáo Nguyễn Vũ H (do Nguyễn Thị M nộp thay) đã nộp 34.393.215 (Ba mươi tư triệu, ba trăm chín ba ngàn, hai trăm mười lăm đồng), nội dung: Nộp tiền bồi thường theo quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2023/HSST ngày 07/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, tại Biên lai thu tiền số 0000937 ngày 08/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

Bị cáo Nguyễn Vũ H (do Nguyễn Thị M nộp thay) đã nộp 200.000 (Hai trăm ngàn đồng), nội dung: Nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, tại Biên lai thu tiền số 0000939 ngày 08/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[5] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Vũ H và bị cáo Nguyễn Văn H1 rút kháng cáo do đó các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm a, khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn H1 và bị cáo Nguyễn Vũ H.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Lương Văn Q, giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2023/HS-ST ngày 07/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đối với các bị cáo Nguyễn Vũ H, Nguyễn Văn H1; cụ thể:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 17; Điều 54; Điều 57; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ H, bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Giết người”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2022.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2022.

  1. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 590, Điều 591, Điều 357 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Vũ H và bị cáo Nguyễn Văn H1 phải liên đới bồi thường cho anh Lương Văn Q 200.655.358 đồng (Hai trăm triệu, sáu trăm năm lăm nghìn, ba trăm năm mươi tám đồng), cụ thể:

Buộc bị cáo Nguyễn Vũ H phải bồi thường cho anh Lương Văn Q số tiền 120.393.215 đồng (Một trăm hai mươi triệu, ba trăm chín mươi ba nghìn, hai trăm mười lăm đồng). Xác nhận bị cáo đã nộp 50.000.0000 đồng (Năm mươi triệu đồng) tại Biên lai số 0000002 ngày 10/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang, bị cáo còn phải bồi thường cho anh Q 70.393.215 đồng (Bảy mươi triệu, ba trăm chín mươi ba nghìn, hai trăm mười lăm đồng).

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H1 phải bồi thường cho anh Lương Văn Q 80.262.143 đồng (T3 mươi triệu, hai trăm sáu mươi hai nghìn, một trăm bốn mươi ba đồng). Xác nhận bị cáo đã nộp 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) tại Biên lai thu tiền số 0000002 ngày 10/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang, bị cáo còn phải bồi thường thường tiếp cho anh Q 20.262.143 đồng (Hai mươi triệu, hai trăm sáu mươi hai nghìn, một trăm bốn mươi ba đồng).

Buộc anh Lương Văn Q phải bồi thường cho bị cáo Nguyễn Vũ H số tiền 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu đồng).

Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn H1 (do Nguyễn Thị M nộp thay) đã nộp 20.262.143 đồng (Hai mươi triệu, hai trăm sáu mươi hai ngàn, một trăm bốn mươi ba đồng), nội dung: Nộp tiền bồi thường theo quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2023/HSST ngày 07/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, tại Biên lai thu tiền số 0000938 ngày 08/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

Xác nhận bị cáo Nguyễn Vũ H (do Nguyễn Thị M nộp thay) đã nộp 34.393.215 (Ba mươi tư triệu, ba trăm chín ba ngàn, hai trăm mười lăm đồng), nội dung: Nộp tiền bồi thường theo quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2023/HSST ngày 07/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, tại Biên lai thu tiền số 0000937 ngày 08/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

  1. Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Vũ H, Nguyễn Văn H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Xác nhận bị cáo Nguyễn Vũ H (do Nguyễn Thị M nộp thay) đã nộp 200.000 (Hai trăm ngàn đồng), nội dung: Nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, tại Biên lai thu tiền số 0000939 ngày 08/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - Các bị cáo (qua Trại TG);
  • - Người tham gia tố tụng khác (theo đ/c);
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 393/2024/HS-PT ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (tội giết người)

  • Số bản án: 393/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Giết người)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Vũ H và Nguyễn Văn H1 phạm tội "Giết người"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger