|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 392/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26/12/2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huyên.
Bà Mai Thị Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 462/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2023 về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 423/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 309/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023, giữa:
-
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh ngày 01/12/1982,
Địa chỉ: Đường Y, khu B, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương.
-
Anh Nguyễn Văn S, sinh ngày 03/8/1980,
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Đội 5, KDC P, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Hàn Quốc.
(Chị L, anh S vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G (nay là phường T, thành phố H), tỉnh Hải Dương ngày 06/5/2003. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2012 anh S đi lao động tại Angola, năm 2017 anh về nước. Khi anh về nước năm 2017 vợ chồng chuyển lên Hà Giang làm ăn. Năm 2019, anh S tiếp tục đi lao động tại Hàn Quốc, mẹ con chị vẫn sinh sống tại Hà Giang đến năm 2020 thì chuyển về nhà bố mẹ đẻ chị sinh sống. Quá trình chung sống vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm. Năm 2017 khi anh S về nước cũng không về sống cùng chị mà về nhà bố mẹ anh ở. Khi anh đi Hàn Quốc, chị không lo cho anh đi được nên vợ chồng cãi vã, bất đồng quan điểm, thời gian đầu mới đi anh có liên lạc với chị nhưng vợ chồng không cải thiện được tình cảm mà tiếp tục xảy ra cãi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn S.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Văn L1, sinh ngày 08/4/2004 và Nguyễn Thị Thu M, sinh ngày 07/01/2008, hiện các con đang ở với chị. Con Nguyễn Văn L1 đã thành niên nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị đề nghị được chăm sóc, nuôi dưỡng con Nguyễn Thị Thu M cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi) và chị tự nguyện không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do chị L không cung cấp được địa chỉ của anh S nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình anh S. Bà Nguyễn Thị L2 (là mẹ đẻ anh S) trình bày: Bà không biết địa chỉ cụ thể của anh S ở nước ngoài nên không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên anh S vẫn liên lạc với gia đình qua điện thoại. Bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh S biết. Qua liên lạc anh S trình bày quá trình chung sống vợ chồng chủ yếu sống xa nhau, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau, nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh cũng chưa có ý định về nước nên chị L xin ly hôn, anh hoàn toàn nhất trí. Anh xác định vợ chồng có 02 con chung như chị L trình bày là đúng, con Nguyễn Văn L1 đã thành niên, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết; con Nguyễn Thị Thu M có nguyện vọng ở với ai anh cũng nhất trí. Tài sản chung, nợ chung không có nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Con chung của chị L và anh S là cháu Nguyễn Thị Thu M có nguyện vọng được ở với chị L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L ly hôn anh Nguyễn Văn S. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Thu M cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi); chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị L phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L hiện đang sinh sống ở Việt Nam; bị đơn anh Nguyễn Văn S có nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh ở KDC P, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương, hiện anh S đang lao động tại Hàn Quốc. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị L không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh S. Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh S cung cấp địa chỉ nhưng gia đình không cung cấp được. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị L2 là mẹ đẻ anh S để thông báo về việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa chị L và anh S đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Bà L2 vẫn liên lạc với anh S và đã thông báo việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa chị L và anh S. Tại phiên tòa, chị L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh S vắng mặt và có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G (nay là phường T, thành phố H), tỉnh Hải Dương ngày 06/5/2003 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng đến năm 2012 anh S đi lao động tại Angola đến năm 2017 anh về nước; năm 2019 anh tiếp tục đi lao động tại Hàn Quốc, vợ chồng chủ yếu sống xa nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Năm 2020, chị đưa các con về nhà bố mẹ đẻ ở. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh S. Thông qua gia đình anh S cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh nhất trí ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị L và anh S đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.
[2.2] Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn S có 02 con chung là Nguyễn Văn L1, sinh ngày 08/4/2004 và Nguyễn Thị Thu M, sinh ngày 07/01/2008, hiện các con đang ở với chị. Chị L và anh S cùng thống nhất con chung Nguyễn Văn L1 đã thành niên nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị L có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con Nguyễn Thị Thu M cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi), chị L tự nguyện không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Con chung Nguyễn Thị Thu M có nguyện vọng được ở với chị L. Hội đồng xét xử xét thấy, thỏa thuận của các đương sự phù hợp với thực tế, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Do vậy, cần chấp nhận thỏa thuận của anh chị giao con chung Nguyễn Thị Thu M cho chị L chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên (tròn 18 tuổi), anh S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị L, anh S xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51; 56; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L ly hôn anh Nguyễn Văn S.
- Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Thị Thu M, sinh ngày 07/01/2008 cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị L tạm thời không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) và được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0001277 ngày 24/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị L đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Văn S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Trường |
Bản án số 392/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 392/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị L xin ly hôn anh Nguyễn Văn S
