TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 392/2024/HS-PT Ngày: 23 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Nhu.
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thu.
Bà Bùi Lan Hương.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 246/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Ngô Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 139/2024/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Bị cáo có kháng cáo:
Ngô Văn T (tên gọi khác: không); sinh ngày 27 tháng 12 năm 1973, tại Nam Định;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm A, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định;
Nơi cư trú: Tổ H, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn T1, sinh năm 1952 (đã chết) và bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1952 (còn sống); có vợ tên Đinh Thị H, sinh năm 1981 và có 02 người con (con lớn sinh năm 2005 và con nhỏ sinh năm 2014);
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06 tháng 01 năm 2022, sau đó chuyển tạm giam đến ngày 17/4/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn khác. Hiện bị cáo đang tại ngoại. (Có mặt).
Ngoài ra, còn có người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Công ty A, Công ty TNHH Q, Công ty CP H1, Công ty TNHH S nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị, không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Văn T làm nghề buôn bán tự do. Để có tiền tiêu xài, T đã thực hiện hành vi mua các loại hàng giả gồm: bột ngọt nhãn hiệu “AJ-NO-MOTO” của Công ty A1 (địa chỉ: Khu công nghiệp B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai); hạt nêm nhãn hiệu “Knorr” và bột giặt nhãn hiệu “Omo”, của Công ty TNHH Q (địa chỉ: Lô A, Khu công nghiệp T, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh) và bột giặt nhãn hiệu “Aba” của Công ty TNHH S (địa chỉ: số A N, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh) để bán lại và trực tiếp sản xuất hàng giả là nước mắm nhãn hiệu “Nam Ngư Đệ Nhị” của Công ty Cổ phần H2 (địa chỉ: Tầng A, tòa nhà M, số C L, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh) và nước rửa chén nhãn hiệu “Sunlight” của Công ty TNHH Q, để mang đi bán dạo cho người tiêu dùng và các cửa hàng tạp hóa tại khu vực phường T, thành phố B, cụ thể:
* Hành vi buôn bán hàng giả:
Vào tháng 12/2021 (không nhớ ngày) T đã 02 lần mua của 01 người (không rõ lai lịch) bán hàng giả dạo gồm các loại bột ngọt nhãn hiệu “AJ-NO-MOTO”, hạt nêm nhãn hiệu “Knorr”, bột giặt nhãn hiệu “Omo” và bột giặt nhãn hiệu “Aba” (nêu trên) tại khu vực phường T và H, thành phố B, gồm:
- Lần thứ nhất: Vào khoảng đầu tháng 12/2021, T mua 05 gói bột ngọt giả nhãn hiệu “AJ-NO-MOTO” (gồm: 04 gói loại 454g, giá 26.000 đồng/gói và 01 gói loại 100g, giá 5.000 đồng/gói); 10 gói hạt nêm giả nhãn hiệu “Knorr” loại 400g, giá 17.000 đồng/gói và 05 gói bột giặt giả nhãn hiệu “Aba” loại 800g, giá 24.000 đồng/gói. Sau đó, T đã bán cho công nhân và một số tạp hóa (không nhớ tên và địa chỉ cụ thể) thuộc phường T, thành phố B 05 gói hạt nêm nhãn hiệu “Knorr” loại 400g, với giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng)/gói; 03 gói bột ngọt giả nhãn hiệu “AJ-NO-MOTO” loại 454g, với giá 30.000 đồng (Ba mươi nghìn đồng)/gói và 05 gói bột giặt nhãn hiệu “Aba” loại 800g, với giá 27.000 đồng (Hai mươi bảy nghìn đồng)/gói. Còn lại 01 gói bột ngọt giả nhãn hiệu “AJ-NO-MOTO" loại 454g; 01 gói bột ngọt giả nhãn hiệu “AJ-NO-MOTO” loại 100g và 05 gói hạt nêm nhãn hiệu “Knorr” loại 400g.
- Lần thứ hai: Vào khoảng cuối tháng 12/2021, T tiếp tục mua 35 gói bột ngọt giả nhãn hiệu “AJ-NO-MOTO” loại 454g, giá 26.000 đồng/gói; 29 gói hạt nêm giả nhãn hiệu “Knorr” (gồm: 13 gói loại 170g, giá 12.000 đồng/gói; 11 gói loại 400g, giá 17.000 đồng/gói và 05 gói loại 900g, giá 44.000 đồng/gói); 56 gói bột giặt giả nhãn hiệu “Omo” (gồm: 01 bịch loại 800g, giá 24.000 đồng/gói; 36 bịch loại 400g, giá 12.000 đồng/gói; 18 gói loại 720g, giá 24.000 đồng/gói; 01 gói loại 03kg, giá 70.000 đồng/gói) và 11 gói bột giặt giả nhãn hiệu “Aba” loại 800g, để nhằm bán ra thị trường.
* Hành vi sản xuất hàng giả:
Vào khoảng cuối tháng 12/2021, để thực hiện hành vi sản xuất hàng giả, T thu mua các loại vỏ, nắp chai nước mắm “Đệ Nhị”, nước tương “Chinsu foods” và chai nước rửa chén “Sunlight” của những người bán ve chai và một số loại sản phẩm thật tại của hàng tạp hóa khu vực chợ S1 phường T gồm: nước mắm Phan T2 đóng can, nước mắm nhãn hiệu “Đệ Nhị”, nước tương nhãn hiệu “Hương Việt”, nước rửa chén nhãn hiệu Siêu Sạch, muối I và các loại nhãn mác (nhãn hiệu nước mắm “Nam ngư Đệ Nhị” và nước rửa chén nhãn hiệu “Sunlight”), rồi làm giả nước mắm nhãn hiệu “Nam Ngư Đệ Nhị” và nước rửa chén nhãn hiệu “Sunlight”, cụ thể:
- Đối với thủ đoạn làm giả nước mắm “Nam Ngư Đệ Nhị”, T thực hiện bằng 02 cách: Cách thứ nhất, Thanh san (rót) ½ nước mắm Đệ Nhị thật sang vỏ chai nước mắm “Đệ Nhị”, sau đó dùng nước mắm Phan T2 rót thêm ½ thành 02 chai nước mắm nhãn hiệu “Nam Ngư Đệ Nhị”, rồi rót thêm một ít nước tương “Hương Việt” vào mỗi chai để tạo màu sắc tương đồng với màu nước mắm “Đệ Nhị” thật và đóng nắp chai lại.
- Cách thứ hai, T rót ½ nước mắm “Đệ Nhị “thật sang vỏ chai nước mắm “Đệ Nhị”, sau đó rót thêm ½ nước lọc (đã được hòa muối Iốt) thành 02 chai nước mắm nhãn hiệu “Đệ Nhị”, rồi rót thêm một ít nước tương “Hương Việt” vào mỗi chai để tạo màu sắc tương đồng với màu nước mắm “Đệ Nhị” thật và đóng nắp chai lại.
- Đối với thủ đoạn làm giả nước rửa chén nhãn hiệu Sunlight: T sử dụng nước rửa chén nhãn hiệu “Siêu Sạch” rót vào các vỏ chai nước rửa chén nhãn hiệu “Sunlight” thật, sau đó đóng nắp chai lại để bán.
Quá trình điều tra T khai đã sản xuất được 89 chai nước mắm giả nhãn hiệu “Nam Ngư Đệ Nhị” loại 900ml và 15 chai nước rửa chén giả nhãn hiệu "Sunlight” loại 725ml, sau đó đã bán ra thị trường cho người tiêu dùng (không rõ lai lịch) và cửa hàng T3 (không nhớ tên, địa chỉ cụ thể) tại khu vực phường T, được 10 chai nước mắm giả nhãn hiệu “Đệ Nhị” với giá 18.000 đồng (Mười tám nghìn đồng)/chai và 15 chai nước rửa chén giả nhãn hiệu “Sunlight” với giá 19.000 đồng (Mười tám nghìn đồng)/chai.
Đến ngày 05/01/2022, T bị lực lượng Cảnh sát Môi trường Công an tỉnh Đ phát hiện, phối hợp với lực lượng Cảnh sát điều tra Công an thành phố B bắt giữ, khởi tố, điều tra xử lý.
* Vật chứng vụ án gồm:
- 37 gói bột ngọt nhãn hiệu “AJ-NO-MOTO” (gồm: 36 gói loại 454g và 01 gói loại 100g); 34 gói hạt nêm nhãn hiệu “Knorr” (gồm: 13 gói loại 197g; 16 gói loại 400g và 05 gói loại 900g); 56 gói bột giặt nhãn hiệu “Omo” (gồm: 01 bịch loại 800g; 36 bịch loại 400g; 18 gói loại 720g; 01 gói loại 03kg); 11 gói bột giặt nhãn hiệu “Aba” loại 800g và 79 chai nước mắm “Nam Ngư Đệ Nhị” loại 900ml, thu giữ của bị cáo Ngô Văn T, bị cáo xác định là hàng giả;
- 05 gói hạt nêm nhãn hiệu “Knorr” loại 400g; 03 gói bột ngọt nhãn hiệu “AJ-NO-MOTO” loại 454g; 05 gói bột giặt nhãn hiệu “Aba” loại 800g; 10 chai nước mắm giả nhãn hiệu “Đệ Nhị” và 15 chai nước rửa chén giả nhãn hiệu “Sunlight”, bị cáo Ngô Văn T khai là số hàng giả bị cáo đã mua và sản xuất, sau đó đã bán cho công nhân và một số tạp hóa, không xác định được tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu hồi được;
- 13 chai nước mắm “Nam Ngư Đệ Nhị”, loại 900ml; 18 chai nước mắm “Nam Ngư”, loại 750ml; 08 chai nước tương “Hương Việt”, loại 500ml; 10 bịch muối Iot, loại 01kg và 01 bịch nước rửa chén “Siêu Sạch” loại 1.5 lít, thu giữ của bị cáo Ngô Văn T, bị cáo xác định là hàng thật mua về để làm nguyên liệu sản xuất hàng giả;
- 347 vỏ chai nước mắm “Đệ Nhị”, loại 900ml; 12 vỏ chai nước mắm “Nam Ngư”, loại 750ml; 21 vỏ chai nước nắm “Nam Ngư”, loại 500ml; 30 vỏ chai nước tương “Hương Việt”, loại 500ml; 08 bảng nhãn nước mắm “Nam Ngư”; 44 nhãn hiệu “Sunlight”; 212 bắp chai “Chinsu foods”; 94 nắp chai "Sunlight"; 97 vỏ chai “Sunlight” loại 725ml và 08 vỏ can nước rửa chén “Siêu Sạch” loại 3,88 lít, thu giữ của bị cáo Ngô Văn T. Các loại vỏ chai, can và nắp chai do bị cáo mua lại của những người bán ve chai và được người dân cho; các bảng nhãn nước mắm “Nam Ngư” và nhãn hiệu “Sunlight”, do bị cáo mua của đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch). Bị cáo xác định các sản phẩm và vật dụng trên, bị cáo sử dụng để sản xuất hàng giả là nước mắm và nước rửa chén.
- 01 gói hạt nêm nhãn hiệu “Vua bếp Miwon”, loại 10kg; 21 gói bột giặt nhãn hiệu “Plus”, loại 06kg; 95 vỏ thùng catong có in chữ “AJ-NO-MOTO”; 22 vỏ thùng catong có in chữ “OMO”; 03 vỏ thùng catong có in chữ “Knorr”; 08 vỏ thùng catong có in chữ “Tường An”; 01 máy ép nhiệt hiệu “Cường Phát” và 01 máy dập số có chữ “Multiple – Row Code Printer”, thu giữ của bị cáo Ngô Văn T, là các loại sản phẩm bị cáo mua về để bán lại và đồ dùng cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội trong vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo T;
- 01 Điện thoại di động hiệu Nokia 215 màu đen, có gắn sim số 0344.573789 và 01 Giấy đăng ký xe biển số 60X5-5558, tạm giữ của bị cáo T, bị can xác định là điện thoại cá nhân, không sử dụng vào việc phạm tội; giấy đăng ký xe do bị cáo mượn xe của em ruột là Ngô Văn L (sinh năm 1983, ngụ tại 9, tổ A, khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo T.
* Tại các bản Kết luận giám định số 639/C09B, số 640/C09B ngày 14/01/2022; số 3721/KL-KTHS ngày 16/9/2022; số 306/KL-KTHS ngày 03/02/2023 và số 306/1/KL-KTHS ngày 07/02/2023, của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- “Bao bì hạt nêm nhãn hiệu “Knorr”, bao bì bột ngọt nhãn hiệu “AJ-NO-MOTO” và bao bì bột giặt nhãn hiệu “Omo”, so với mẫu bao bì dùng làm mẫu so sánh tương ứng là không được in ra từ cùng bản in”;
- “Các mẫu hạt nêm nhãn hiệu “Knorr”, các mẫu bột ngọt nhãn hiệu “AJ-NO-MOTO” và các mẫu bột giặt nhãn hiệu “Omo”, của mẫu giám định, với các mẫu bao bì dùng làm mẫu so sánh tương ứng là hạt nêm, bột ngọt và bột giặt tương ứng cùng loại của mẫu so sánh có hình dạng, kích thước, màu sắc và thành phần hóa học khác nhau;”
- Chất lỏng trong chai nước mắm nhãn hiệu “Nam Ngư Đệ Nhị” gửi giám định có thành phần hóa học khác với mẫu nước mắm so sánh cùng nhãn hiệu tương ứng do Công ty Cổ phần H2 cung cấp;"
- Bột giặt trong các gói bột giặt nhãn hiệu “Aba” gửi giám định có thành phần hóa học khác với mẫu bột giặt so sánh tương ứng do Công ty TNHH S cung cấp”;
- Các lớp in trên bao bì bột giặt “Omo”, bao bì bột giặt “Aba”, bao bì bột ngọt “AJ-NO-MOTO” và bao bì hạt nêm “Knorr” cần giám định so với các lớp in tương ứng trên bao bì bột giặt “Omo”, bao bì bột giặt “Aba”, bao bì bột ngọt “AJ-NO-MOTO” và bao bì hạt nêm “Knorr” mẫu so sánh là không được in ra từ cùng một bản in”;
- Các lớp in trên nhãn mác “Nam Ngư Đệ Nhị” dán trên các chai nước mắm cần giám định so với các lớp in tương ứng trên nhãn mác “Nam Ngư Đệ Nhị” dán trên các chai nước mắm mẫu so sánh là không được in ra từ cùng một bản in".
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 1504/KL-HĐĐGTS ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
- 37 gói bột ngọt nhãn hiệu “AJ-NO-MOTO” (gồm: 36 gói loại 454g và 01 gói loại 100g); 34 gói hạt nêm nhãn hiệu “Knorr” (gồm: 13 gói loại 197g; 16 gói loại 400g và 05 gói loại 900g) và 79 chai nước mắm “Nam Ngư Đệ Nhị” loại 900ml. Tổng giá trị là 3.626.117 đồng (Ba triệu, sáu trăm hai mươi sáu nghìn, một trăm mười bảy đồng).
- 56 gói bột giặt nhãn hiệu “Omo” (gồm: 01 bịch loại 80g; 36 bịch loại 400g; 18 gói loại 720g; 01 gói loại 03kg) và 11 gói bột giặt nhãn hiệu “Aba” loại 800g. Tổng giá trị là 1.939.655 đồng (Một triệu, chín trăm ba mươi chín nghìn, sáu trăm năm mươi lăm đồng).
* Về dân sự:
Đại diện theo ủy quyền của các Công ty (Công ty A1; Công ty TNHH S; Công ty Cổ phần H2 và Công ty TNHH Q) đều không có yêu cầu bồi thường.
Tại Cáo trạng số: 59/CT-VKSBH-HS ngày 15/01/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm” quy định tại khoản 1 Điều 193 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 139/2024/HS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 193; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giam từ ngày 06/01/2022 đến ngày 17/4/2022.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt bổ sung đối với bị cáo Ngô Văn T số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước, xử lý vật chứng và án phí.
Ngày 27 tháng 3 năm 2024, bị cáo Ngô Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt xin được hưởng án treo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm: Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Ngô Văn T về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm” quy định tại khoản 1 Điều 193 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Ngô Văn T 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm” là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính, nhân thân tốt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đưa ra được các tài liệu thể hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình phải chăm sóc mẹ già yếu bệnh tật, có con còn nhỏ. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Trong thời gian tại ngoại, bị cáo chấp hành tốt chính sách và pháp luật, không có vi phạm gì. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tội danh: Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2021 đến ngày 05/01/2022, tại địa chỉ nhà thuộc tổ H, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Ngô Văn T đã 02 lần có hành vi buôn bán hàng giả gồm: 37 gói bột ngọt giả nhãn hiệu “AJ-NO-MOTO” (gồm: 36 gói loại 454g và 01 gói loại 100g); 34 gói hạt nêm giả nhãn hiệu “Knorr “(gồm: 13 gói loại 170g; 16 gói loại 400g và 05 gói loại 900g) và trực tiếp sản suất hàng giả gồm: 79 chai nước mắm giả nhãn hiệu “Nam Ngư Đệ N” loại 900ml, để bán ra thị trường nhằm thu lợi bất chính. Tổng giá trị hàng giả bị cáo sản xuất, buôn bán là 3.626.117 đồng, thu lợi bất chính số tiền 790.000 đồng.
Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Ngô Văn T về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm” quy định tại khoản 1 Điều 193 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự của nền sản xuất hàng hóa, làm mất sự ổn định thị trường, ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của các công ty bị làm giả, đồng thời xâm hại đến lợi ích, sức khỏe của người tiêu dùng. Bị cáo là người đã trưởng thành, biết hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện phạm tội với lỗi cố ý để nhằm thu lợi bất chính.
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; xem xét tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52; tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm 02 tháng tù là phù hợp.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nhưng với số lượng ít, thu lợi bất chính số tiền không lớn. Mặt khác, tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo đưa ra được các tài liệu thể hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi con còn nhỏ. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Trong thời gian tại ngoại, bị cáo chấp hành tốt chính sách và pháp luật, không có vi phạm gì.
Vì vậy, có cơ sở để chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo.
[3] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Ngô Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết lại.
[5] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Văn T, sửa bản án sơ thẩm.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 193; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao):
Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày tuyên án (23/8/2024).
Giao bị cáo Ngô Văn T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí:
Bị cáo Ngô Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Bá Nhu |
Bản án số 392/2024/HS-PT ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm
- Số bản án: 392/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Thanh, sửa bản án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Ngô Văn Thanh 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày tuyên án (23/8/2024).
