Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 392/2024/ HNGĐ-ST

Ngày: 22/7/2024

V/v Tranh chấp “ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Thương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vũ Thị Hiệp
  2. Bà Phan Thị Mai Khanh

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thùy Vân – Thư ký Toà án nhân dân Quận 6.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh Đào - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 6 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2024/TLST-HNGĐ ngày 07/3/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26/6/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1996; Địa chỉ thường trú: 66N, tổ B, khu phố C, phường H, Quận A, TP .. (Vắng mặt)
  • - Bị đơn: Ông Trương Hoài T, sinh năm 1995; Địa chỉ: B B, Phường H, Quận F, TP .. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Ngọc Q trình bày:

Bà Nguyễn Ngọc Q và ông Trương Hoài T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2018, đăng ký kết hôn ngày 16/10/2018 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 68 do U1, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cấp.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại B B, Phường H, Quận F, hạnh phúc. Đến tháng 4/2020 bà Q và ông T mâu thuẫn về kinh tế gia đình, do ông T đi làm giữ tiền tiêu xài riêng, mượn nợ cờ bạc, bà Q góp ý nhưng ông T không nghe. Vợ chồng thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung nên bà Q bỏ về nhà mẹ ruột tại Quận A ở và sinh con, vợ chồng ly thân từ giữa năm 2020 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, ông T có vài lần ghé thăm con rồi thưa dần có khi cả năm mới qua thăm con. Nay tình cảm không còn bà Q xin ly hôn với ông T.

Về con chung: Có 01 con chung là Trương Quỳnh Phương U, sinh ngày 23/02/2021. Bà Nguyễn Ngọc Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn là ông Trương Hoài T vắng mặt tại phiên toà, không có bản tự khai.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Q có đơn xin vắng mặt, không có đơn rút yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông Trương Hoài T.

Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Về tố tụng: Quá trình từ khi tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ kết quả xác minh của Công an P, Quận F, ông Trương Hoài T có thực tế cư trú tại Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay bà Q có đơn xin ly hôn ông T nên Tòa án nhân dân Quận 6 thụ lý và giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 và khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, bà Nguyễn Ngọc Q có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, ông Trương Hoài T vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Q và ông Trương Hoài T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2018, đăng ký kết hôn ngày 16/10/2018 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 68 do Ủy ban nhân dân Phường C Quận F, TP . cấp. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Theo Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau.... Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau…….”; Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “……Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng,

Theo bà Q, do ông T đi làm giữ tiền tiêu xài riêng, mượn nợ cờ bạc, bà Q góp ý nhưng ông T không nghe từ đó vợ chồng thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung vợ chồng ly thân từ giữa năm 2020 cho đến nay, tình cảm không còn nên bà Q xin ly hôn với ông T.

Về phía ông Trương Hoài T, Tòa án đã gửi thông báo thụ lý cho ông T về việc bà Q có đơn yêu cầu ly hôn ông T. Tuy nhiên, từ khi nhận thông báo thụ lý đến nay ông T không có văn bản gửi Tòa án về ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà Q, cũng không đến Toà án để tham dự hòa giải mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Cho thấy mối quan hệ giữa ông T và bà Q đã không còn gắn bó; ông T không còn tha thiết đến tình cảm vợ chồng, không quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm vợ chồng; phía bà Nguyễn Ngọc Q vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chấp nhận yêu cầu của bà Q là thỏa đáng.

[3] Về con chung: Bà Q và ông T có 01 con chung là trẻ Trương Quỳnh Phương U, sinh ngày 23/02/2021. Bà Nguyễn Ngọc Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận.

Hội đồng xét xử thấy rằng, từ khi bà Q và ông T ly thân vào tháng 6/2020 đến nay bà Q là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Bà Q có nơi ở, có thu nhập ổn định. Do vậy, việc giao con chung là trẻ Trương Quỳnh Phương U cho bà Q tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Ngọc Q và ông Trương Hoài T tự thỏa thuận.

Ông Trương Hoài T có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con, yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc hạn chế quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

[4] Về tài sản chung: Bà Q xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Khi nào có tranh chấp các bên có quyền khởi kiện trong vụ kiện khác.

[5] Về nợ chung: Khi nào có tranh chấp các bên có quyền khởi kiện trong vụ kiện khác.

[6] Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc Q phải chịu án phí theo quy định tại điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83,84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã sửa đổi, bổ sung năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016).

TUYÊN XỬ:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Ngọc Q đối với ông Trương Hoài T.

    Giấy chứng nhận kết hôn số 68, ngày 16/10/2018 do Ủy ban nhân dân Phường U1 Quận F, TP . cấp cho bà Nguyễn Ngọc Q và ông Trương Hoài T không còn giá trị pháp lý.

  2. Về con chung: Giao con chung là trẻ Trương Quỳnh Phương U, sinh ngày 23/02/2021 cho bà Nguyễn Ngọc Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Ngọc Q và ông Trương Hoài T tự thỏa thuận.

    Ông Trương Hoài T có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con, yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc hạn chế quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

  3. Về tài sản chung: Khi nào có tranh chấp các bên có quyền khởi kiện trong vụ kiện khác.
  4. Về nợ chung: Khi nào có tranh chấp các bên có quyền khởi kiện trong vụ kiện khác.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Ngọc Q phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà Q đã nộp theo biên lai thu số 0009651 ngày 07/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, TP ..

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 6;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6 ;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - UBND Phường 10, Quận 6
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Kim Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 392/2024/ HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 392/2024/ HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger