| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG ---------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ----------------------- |
Bản án số: 392/2025/HNGĐ-ST
Ngày 19 tháng 12 năm 2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Ba
Ông Nguyễn Kim Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 222/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 222/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 147/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Thu T, sinh ngày: 31/10/1997; Địa chỉ: K L, tổ C phường S, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Võ Văn Đ, sinh ngày: 29/12/1996; Địa chỉ: P, khu A, khu C, đường K, phường S, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Thị Thu T trình bày:
Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Thu T và ông Võ Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 106 ngày 28/6/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ chồng ở khu chung cư L, đường K, phường S, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chồng bà có hành vi vi phạm pháp luật phải chấp hành án nhiều lần, có sử dụng trái phép chất ma tuý, vợ chồng không còn tiếng nói chung. Mâu thuẫn được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân được 02 năm, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay về tình cảm bà Đặng Thị Thu T xác định không còn yêu thương anh Võ Văn Đ nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Văn Đ.
Về con chung: Bà Đặng Thị Thu T xác định vợ chồng ông bà có 01 con chung là Võ Duy Đ1, sinh ngày 30/7/2018. Con chung hiện đang sống với bà Đặng Thị Thu T. Ly hôn bà Đặng Thị Thu T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông Võ Văn Đ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 12/2025 cho đến khi con chung thành niên.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đặng Thị Thu T xác định bà và ông Võ Văn Đ không có tài sản chung và nợ chung.
- Bị đơn ông Võ Văn Đ đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên ông vẫn vắng mặt, không có ý kiến.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã tuân theo đúng pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại khoản 5 Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa, người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đã không chấp hành các quy định của pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 116, 117, 118 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Thu T đối với ông Võ Văn Đ. Về hôn nhân: Cho bà Đặng Thị Thu T được ly hôn với ông Võ Văn Đ; Về con chung: Giao con chung Võ Duy Đ1, sinh ngày 30/7/2018 cho bà Đặng Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên, ông Võ Văn Đ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 12 năm 2025 cho đến khi con chung thành niên. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đặng Thị Thu T xác định không có tài sản chung và nợ chung, đối với ông Võ Văn Đ vắng mặt không có ý kiến về tài sản và nợ chung nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Võ Văn Đ cư trú tại phường S, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3]. Bị đơn ông Võ Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Đặng Thị Thu T và ông Võ Văn Đ xác lập trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Bà Đặng Thị Thu T xác định trong quá trình chung sống giữa vợ chồng ông bà có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Võ Văn Đ vi phạm pháp luật hình sự phải chấp hành án nhiều lần, sử dụng trái phép chất ma tuý, vợ chồng không còn tiếng nói chung. Mâu thuẫn được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân được 02 năm, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Đối với ông Võ Văn Đ vắng mặt, không có ý kiến.
Hội đồng xét xử thấy rằng giữa các bên đương sự có mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến việc các bên lựa chọn sống ly thân là có thật, việc bị đơn ông Võ Văn Đ không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa cho thấy ông không còn muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, đời sống chung giữa hai người đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Thu T phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Đặng Thị Thu T được ly hôn với ông Võ Văn Đ.
[2.2]. Về con chung: Bà Đặng Thị Thu T xác định vợ chồng bà có 01 con chung chưa thành niên do bà chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn bà Đặng Thị Thu T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Thực tế hiện nay con chung đang sống cùng với bà Đặng Thị Thu T có chính quyền địa phương xác nhận, bà Đặng Thị Thu T đủ khả năng nuôi dưỡng chăm sóc con chung, đối với ông Võ Văn Đ vắng mặt không có yêu cầu gì về việc nuôi con chung, do đó căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị Thu T, tiếp tục giao con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên.
[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đặng Thị Thu T yêu cầu cấp dưỡng nuôi mỗi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng. Ông Võ Văn Đ vắng mặt không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy: Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì trong trường hợp các bên đương sự không thoả thuận được mức cấp dưỡng nuôi con chung thì Toà án ấn định căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng, mức cấp dưỡng không thấp hơn 50% mức lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con. Mức lương tối thiểu vùng ở địa phương hiện nay là 4.410.000 đồng/tháng, bà Đặng Thị Thu T yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng thấp hơn quy định nên cần chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị Thu T buộc ông Võ Văn Đ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 12 năm 2025 cho đến khi các con chung lần lượt thành niên là phù hợp.
[2.4]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đặng Thị Thu T xác định vợ chồng bà không có tài sản chung và nợ chung. Đối với ông Võ Văn Đ vắng mặt không có ý kiến, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bà Đặng Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí tranh chấp hôn nhân và gia đình, ông Võ Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
[5]. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” của bà Đặng Thị Thu T đối với ông Võ Văn Đ.
- Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Thu T được ly hôn với ông Võ Văn Đ (Giấy chứng nhận kết hôn số 106 do Ủy ban nhân dân phường N, quận S (Nay là Ủy ban nhân dân phường S), thành phố Đà Nẵng cấp ngày 28/6/2018 không còn giá trị pháp lý).
- Về con chung: Giao 01 con chung là Võ Duy Đ1, sinh ngày 30/7/2018 cho bà Đặng Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên.
Ông Võ Văn Đ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 12 năm 2025 cho đến khi con chung thành niên.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày người có quyền có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Án phí tranh chấp hôn nhân và gia đình: Bà Đặng Thị Thu T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Đặng Thị Thu T đã nộp theo biên lai thu số: 0002954 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
Án phí cấp dưỡng nuôi con: Ông Võ Văn Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). - Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2-Đà Nẵng; - Chi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng; - Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng; - UBND phường Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Hằng |
Bản án số 392/2025/HNGĐ-ST ngày 19/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 392/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà T và ông Đ
