Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 392/2025/DS-PT

Ngày: 20/8/2025

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Yên.

Các Thẩm phán: Ông Vũ Hồng Luyến.

Ông Dương Lê Bửu Thiện.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Ánh Nhi – Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Bà Trần Thị Thu Sương – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 351/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 380/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai giữa các đương sự:

· Nguyên đơn: Ông Châu Thành T, sinh năm 1952

Địa chỉ: số nhà I, ấp A, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là xã Đ, tỉnh Đồng Nai).

Người đại diện theo ủy quyền:

  1. Ông Lê Huy H, sinh năm 1982
  2. Địa chỉ liên lạc: Đường B, khu hành chính xã N, tỉnh Đồng Nai.

  3. Ông Châu Văn T1, sinh năm 1980
  4. Địa chỉ: số nhà I, ấp A, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là xã Đ, tỉnh Đồng Nai). (Văn bản ủy quyền ngày 15/7/2024).

- Bị đơn: Bà Trần Thị M, sinh năm 1965

Địa chỉ: số nhà E, ấp A, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là xã Đ, tỉnh Đồng Nai).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Lê Văn T2, sinh ngày 01/01/1964
  • Địa chỉ: số nhà E, ấp A, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là xã Đ, tỉnh Đồng Nai).

  • + Bà Hồ Thị H1, sinh năm 1956
  • Người đại diện uỷ quyền của bà H1: Ông Châu Văn T1, sinh năm 1980

    Cùng địa chỉ: số nhà I, ấp A, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là xã Đ, tỉnh Đồng Nai). (Văn bản ủy quyền ngày 15/7/2024).

  • + Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1953
  • Địa chỉ: tổ B, khu phố Ô, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là phường T, thành phố Hồ Chí Minh).

  • + Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đ. (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ).
  • Địa chỉ: Số E, Đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là phường T, tỉnh Đồng Nai).

  • + UBND huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Đồng Nai).
  • Địa chỉ: khu T huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là xã N, tỉnh Đồng Nai).

· Người làm chứng:

  • + Ông Bùi Thanh N, sinh năm 1963
  • Địa chỉ: A ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là xã Đ, tỉnh Đồng Nai).

  • + Ông Bùi Văn S, sinh năm 1947
  • Địa chỉ: số nhà I, ấp A, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là xã Đ, tỉnh Đồng Nai).

  • + Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1968
  • Địa chỉ ấp A xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (Sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là xã Đ, tỉnh Đồng Nai).

(Ông H, ông T3, bà M, ông T2, ông N, ông S, ông T3 có mặt; ông Đ, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ, UBND huyện N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 16/3/2021 các lời khai khác có tại hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn ông T do anh T3 đại diện, đồng thời anh T3 đại diện cho bà H1 trình bày:

Trước năm 1975, gia đình ông T có khai hoang phần đất nằm cặp đất ông Bùi Văn K, ông Bùi Văn S để canh tác trồng lúa. Đến ngày 01/4/1991 ông T có thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1953, cư ngụ ấp A, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, hiện nay ông Đ đã về sống ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phần diện tích đất khoảng 800m² với giá 500.000đồng (năm trăm nghìn đồng), liền kề với phần đất của gia đình ông T và hai bên có lập giấy chuyển nhượng ruộng ngày 01/4/1991. Ngày 02/4/1991 ông T đến UBND xã P kê khai thêm phần đất ruộng mới mua của ông Nguyễn Tấn Đ vào sổ bộ được ông Nguyễn Huỳnh H2 – Phó chủ tịch UBND xã có làm biên nhận tạm thời ngày 02/4/1991 và thu ông T số tiền 40.000đồng (bốn mươi nghìn đồng). Sau khi nhận chuyển nhượng đất của ông Đ và phần đất của gia đình ông T khai hoang trước đây và tiếp tục canh tác, quản lý, sử dụng liên tục và đăng ký kê khai. Ngày 09 tháng 4 năm 1999 hộ ông Châu Thành T được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với tổng diện tích 29.137m² tại xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Ông T công khai canh tác, sử dụng liên tục phần đất của ông đã khai hoang năm 1975 và phần đất mua của ông Đ năm 1991 cho đến năm 2009 nhà nước thiết lập đo đạc bản đồ địa chính mới thì phần đất của ông khai hoang và mua của ông Đ thuộc các thửa 70, 71, 72, 73, 74 và 75 cùng tờ bản đồ số 53 xã P, ông T đã ký nhận trực tiếp vào từng thửa của bản đồ và sổ bộ của tổ đăng ký.

Ngày 31 tháng 3 năm 2010 UBND xã P tổ chức đăng ký đồng loạt để cấp, đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông T đã đăng ký và được cấp biên nhận. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Châu Thành T các thửa 70, 71, 72, 73, 74 cùng tờ bản đồ số 53 mới xã P. Riêng thửa 75, tờ bản đồ số 53 xã P diện tích 780m² đã cấp biên nhận hồ sơ số 1348 ngày 31/3/2010 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện N thì chưa được cấp giấy. Qua tìm hiểu thì ông T mới phát hiện phần đất ông mua của ông Đ nay thuộc thửa mới số 75 tờ bản đồ số 53 xã P không nằm trong tổng diện tích 29.137m² do UBND huyện N cấp cho ông ngày 09 tháng 4 năm 1999 mà trước đây đã bị đo bao nằm trong phần đất thuộc thửa số 25, tờ bản đồ số 17 cũ xã P của bà M. Ông T mới đến gặp 2 vợ chồng bà M nói chuyện về thửa đất số 75, tờ bản đồ số 53 mới xã P thì vợ chồng bà M nói đất của ông T mua của ông Đ cấp đo bao vào đất của bà M thì vẫn còn đó. Sau đó hai vợ chồng bà M, ông T2 bị tai nạn gãy chân nên phải điều trị và ông T đến gặp nhiều lần nhưng bà M, ông T2 hẹn lần này lượt khác không chịu ký hồ sơ trả đất cho ông T nên năm 2019 ông có khiếu nại ra UBND xã P giải quyết nhưng không thành.

Năm 2019 ông T khởi kiện bà M ra Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch và được Tòa án thụ lý giải quyết liên quan đến diện tích 780m² thửa số 75 tờ bản đồ số 53 xã P. Ngày 09/3/2020 ông T rút đơn khởi kiện để củng cố thêm tài liệu để khởi kiện lại.

Ngày 16/3/2021 ông T nộp đơn khởi kiện lại và được Tòa án thụ lý giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã công khai chứng cứ thì ông T mới biết tháng 01/2021 thì bà M lập thủ tục đăng ký bổ sung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 780m² thửa số 75 tờ bản đồ số 53 xã P và ngày 20/5/2021 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 532837 cho bà M, ông T2.

Ông T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất diện tích 780m² thuộc thửa số 75 tờ bản đồ số 53 (mới) xã P cho ông T.

* Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa bị đơn bà M và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T2 thống nhất trình bày :

Nguồn gốc phần đất tranh chấp diện tích đất 780m² thuộc thửa số 75 tờ bản đồ mới 53 xã P là của vợ chồng ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1953, bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1953 (đã chết); ngụ tại ấp A, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: tổ B, khu phố Ô, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lập giấy sang bán ruộng (giấy tay) ngày 06/10/1991 bán cho vợ chồng bà M, ông T2. Thời điểm mua đất của ông Đ thì phần đất của ông Đ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngoài giấy sang nhượng ruộng ngày 06/10/1991 thì giữa bà M, ông T2 và ông Đ, bà N1 không lập biên bản giao nhận đất hay giấy tờ nào khác.

Do diện tích đất của gia đình ông bà sợ vượt quá hạn mức cho phép của nhà nước nên vợ chồng bà có nhờ em rể là Nguyễn Văn T3 đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà M chỉ nói miệng không lập biên bản gì về việc nhờ ông T3 đứng tên kê khai phần đất này. Giấy sang bán ruộng ngày 06/10/1991 vợ chồng bà còn giữ cho đến nay mà không nộp kèm theo hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T3. Ngày 09/4/1999 ông T3 được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 24.026m² trong đó có 13.699m² đất của ông bà thuộc thửa số 17 tờ bản đồ số 25 cũ xã P. Ngày 04/5/2007 ông T3 lập hợp đồng tặng cho lại diện tích 13.699m² thuộc thửa 17 tờ bản đồ số 25 cũ xã P cho bà M đứng tên. Việc ông T3 ký tặng cho lại cho bà M vào năm 2007 chỉ là về mặt hình thức, còn phần đất này là của vợ chồng ông bà mua của ông Đ, ông T3 không quản lý, sử dụng phần đất này.

Khoảng năm 1991 sau khi ông bà mua đất của ông Đ xong thì do gia đình ông bà bận buôn bán, chăn nuôi heo và việc đi vào ruộng phải sử dụng bằng ghe là rất khó khăn nên ông bà cho ông T mượn ruộng để làm cho sạch cỏ, quản lý không thu tiền, sau khi ông T canh tác được khoảng 02 năm thì ông bà thu 30 dạ lúa/năm. Ông T có đóng lúa cho ông bà đầy đủ. Ông T canh tác được 05 năm thì trả ruộng. Ông T2, bà M cho nhiều người mướn ruộng để làm, gia đình ông bà không làm, không vô thăm đất. Giữa vợ chồng ông bà và ông T không có quan hệ họ hàng với nhau và việc ông bà cho ông T thuê ruộng để làm và thu hoa lợi từ ông T thì hai bên chỉ nói miệng với nhau, không lập giấy tờ gì.

Phần đất diện tích 13.699m² đất thuộc thửa số 17 tờ bản đồ số 25 cũ xã P bà M được cấp chủ quyền thông qua hợp đồng tặng cho của ông T3 năm 2007. Năm 2009 có đợt đo đạc lại và đăng ký cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà M, ông T2 đã đăng ký. Ngày 05/11/2011 UBND huyện N đã cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho vợ chồng bà M các thửa 113, 114, 76 cùng tờ bản đồ số 53 xã P tổng diện tích 11.658m² giảm 2.041m² do bản đồ cũ đo đạc sai sót. Khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa 113, 114, 76 cùng tờ bản đồ số 53 xã P bà M, ông T2 biết thiếu diện tích 2.041m² nhưng không khiếu nại cơ quan cấp giấy hay tranh chấp với những hộ liền kề.

Khoảng năm 2019 thì ông T cho rằng đất của ông T lại cấp cho vợ chồng bà nên tranh chấp ra UBND xã P và khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch và được thụ lý để tranh chấp diện tích 780m² thửa số 75, tờ bản đồ 53 xã P. Ngày 09/3/2020 ông T rút đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch đình chỉ theo Quyết định đình chỉ số 21/2020/QĐST-DS ngày 09/3/2020. Tháng 01/2021 thì bà M lập thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bổ sung đối với diện tích 780m² thửa số 75 tờ bản đồ số 53 xã P và ngày 20/5/2021 Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 532837 cho bà M, ông T2. Tuy nhiên, phần đất mà ông T đang tranh chấp thì ông T là người canh tác, quản lý sử dụng từ năm 1991 cho đến nay là đúng.

Qua yêu cầu khởi kiện của ông T về việc yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất diện tích 780m² thuộc thửa số 75 tờ bản đồ 53 mới xã P cho ông T thì ông bà không đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Theo tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn Đ trình bày:

Ông không biết ông T là ai, giấy chuyển nhượng ruộng ngày 01/4/1991 do ông T cung cấp ông không biết và không ký vào, ông khẳng định ông không bán ruộng cho ông T. Đối với giấy sang bán ruộng ngày 06/10/1991, giấy xác nhận bán ruộng ngày 14/9/2019 do bà M cung cấp tại Tòa án đúng là chữ ký, chữ viết của ông, giấy sang nhượng ruộng ngày 06/10/1991 do vợ ông bà Nguyễn Thị N2 (chết) đã viết. Ông có phần đất ruộng ở xã P, diện tích bao nhiêu thì ông không nhớ và đã bán cho bà M, ông T2 giá 02 cây vàng. Thời gian năm 1991 ông bán ruộng cho vợ chồng bà M, ông T2 thì đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ông xác định chữ ký và chữ viết của ông tại giấy chuyển nhượng ruộng ngày 01/4/1991 do ông T cung cấp không phải là chữ ký, chữ viết của ông nhưng ông không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết tại giấy chuyển nhượng ruộng ngày 01/4/1991 để chứng minh lời khai của ông là có căn cứ hay không.

Nay ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận cho ông T diện tích đất 780m² thửa số 75, tờ bản đồ 53 mới xã P thì ông không đồng ý vì ông chỉ bán đất cho bà M, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện N trình bày tại Văn bản Số: 7352/UBND-TP ngày 28/8/2024 v/v có ý kiến, cung cấp chứng cứ liên quan vụ dân sự giữa ông Châu Thành T với bà Trần Thị M:

Qua xem xét Báo cáo số 684/BC-TNMT ngày 15/8/2024 của Phòng T5, UBND huyện có ý kiến như sau:

Ngày 09/4/1999, UBND huyện N cấp giấy CNQSDĐ số L 125406 cho hộ ông Nguyên Văn T4 đối với thửa đất số 17, tờ bản đồ số 25 (cũ), xã P, diện tích 13.699m².

Sau đó, ông Nguyễn Văn T3 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị M đối với thửa đất số 17, tờ bản đồ số 25 (cũ), xã P và được UBND xã P chứng thực ngày 04/5/2007, số 299, quyền số 01-TP/CC-SCT/HĐGD. Đến ngày 15/8/2007, UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 071104 cho bà Trần Thị M đối với thửa đất số 17, tờ bản đồ số 25 (cũ), xã P, diện tích 13.699m².

Ngày 09/4/2010, ông Lê Văn T2 và bà Trần Thị M có đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với một phần thửa đất số 17, tờ bản đồ số 25 (cũ), xã P tương ứng thửa đất số 76, 113, 114, tờ bản đồ số 53 (mới), xã P được Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện N thẩm tra xác nhận ngày 12/8/2011. Đến ngày 30/12/2011, UBND huyện cấp các giấy CNQSDĐ số BH 293074 đối với thửa đất số 76, diện tích 4.422m², giấy CNQSDĐ số BH 293075 đối với thửa đất số 113, diện tích 3.848m² và giấy CNQSDĐ số BH 293076 đối với thửa đất số 114, diện tích 2.608m², cùng thuộc tờ bản đồ số 53 (mới), xã P cho ông Lê Văn T2 và bà Trần Thị M.

Ngày 19/01/2021, ông Lê Văn T2 và bà Trần Thị M có đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyên sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với một phần thửa đất số 17, tờ bản đồ số 25 (cũ), xã P tương ứng thửa đất số 75, tờ bản đồ số 53 (mới), xã P, được UBND xã P xác nhận ngày 19/01/2021 và Văn phòng Đ2 - Chi nhánh N3 thẩm tra xác nhận ngày 14/5/2021. Đến ngày 20/5/2021, ông Lê Văn T2 và bà Trần Thị M được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy CNQSDĐ số DB 532837 đối với thửa đất 75, tờ bản đồ số 53 (mới), xã P, diện tích 780m2.

Qua rà soát hồ sơ, nhận thấy việc UBND huyện cấp giấy CNQSDĐ số AK 071104 ngày 15/8/2004 cho bà Trần Thị M trên cơ sở hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T3 với bà Trần Thị M và được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục quy định. Do đó, đối với các nội dung khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Hiện nay các hồ sơ liên quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuộc huyện N do Văn phòng Đ2 chi nhánh N3 quản lý, lưu trữ và cập nhật biến động theo quy định. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch trực tiếp liên hệ đơn vị trên để được cung cấp theo yêu cầu.

Về việc tham gia tố tụng: Vì lý do công tác nên UBND huyện N dự kiến vắng mặt tất cả các buổi làm việc, thẩm định, công khai chứng cứ, đối thoại và các phiên tòa xét xử liên quan đến vụ án này nếu có. UBND huyện sẽ có văn bản xin vắng mặt theo quy định, đồng thời sẽ phối hợp cung cấp thông tin khi Tòa án có đề nghị.

UBND huyện N phúc đáp để Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở T có ông Nguyễn Thành Đ1 - Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ2 - Chi nhánh N3 trình bày tại Văn bản số 4257/VPĐK.NT-ĐK&CGCN ngày 30/8/2024

Căn cứ Thông báo số 629/TB-TA ngày 16/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch về việc tham gia tố tụng trong vụ án tranh chấp dân sự do nguyên đơn là ông Châu Thành T khởi kiện, bị đơn là bà Trần Thị M về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất", tại vị trí thửa 75, diện tích 780m2 tờ bản đồ số 53 xã P, huyện N (theo hệ thống BĐĐC mới).

Căn cứ văn bản số 7907/STNMT-VP ngày 28/08/2024 của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ về việc ủy quyền tham gia vụ án tố tụng dân sự do ông Châu Thành T là nguyên đơn khởi kiện.

Tôi là Nguyễn Thành Đ1 - Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ2 - chi nhánh N3 được ủy quyền tham gia tố tụng vụ án dân sự với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (theo Văn bản ủy quyền số 7907/STNMT-VP ngày 28/08/2024 của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ) có ý kiến với nội dung như sau:

1. Diễn biến vụ việc:

Thửa đất số 17, diện tích 13699m2 tờ bản đồ số 25 xã P (theo hệ thống BĐĐC cũ) được UBND huyện N cấp giấy CN.QSD đất số AK 071104 cấp ngày 15/8/2007 cho bà Trần Thị M.

Năm 2021, bà Trần Thị M và chồng là ông Lê Văn T2 có lập thủ tục hồ sơ đăng ký đề nghị cấp đổi giấy CN.QSD đất (bổ sung) theo bản đồ địa chính mới (đồng thời đề nghị gia hạn tiếp tục thời hạn sử dụng đất, bổ sung tên chồng là ông Lê Văn T2 cùng đứng tên chung trong Giấy chứng nhận) đối với một phần thửa đất số 17 tờ bản đồ số 25 xã P (theo hệ thống BĐĐC cũ) cấp đổi tương ứng thành thửa 75, diện tích 780m2 tờ bản đồ số 53 xã P (theo hệ thống BĐĐC mới) và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp đổi giấy CN.QSD đất số DB 532837 cấp ngày 20/05/2021 cho ông Lê Văn T2 và bà Trần Thị M.

2. Ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Châu Thành T:

Căn cứ theo nội dung biên bản kiểm tra hiện trạng thực tế của UBND xã P lập ngày 19/01/2021 và Văn bản ưng thuận được UBND xã P chứng thực số 129 quyển số: 01/2021-SCT/CK, CĐ ngày 29/04/2021 và các thành phần giấy tờ kèm trong hồ sơ và Căn cứ theo quy định hiện hành tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận: Điều 37, Điều 74, Điều 76 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và khoản 4, khoản 5 Điều 98, Điều 105, Điều 126, khoản 3 Điều 210 Luật Đất đai năm 2013 thì việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 532837 cấp ngày 20/05/2021 cho ông Lê Văn T2 và bà Trần Thị M, thuộc thửa 75, diện tích 780m2 tờ bản đồ số 53 xã P (theo hệ thống BĐĐC mới) là đúng theo quy định của pháp luật. Do đó, trường hợp phía nguyên đơn là ông Châu Thành T có yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên xử Hủy giấy CN.QSD đất số DB 532837 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 20/05/2021 cho ông Lê Văn T2 và bà Trần Thị M, thuộc thửa 75, diện tích 780m2 tờ bản đồ số 53 xã P (theo hệ thống BĐĐC mới) là không có cơ sở.

+ Về nội dung "Tranh chấp quyền sử dụng đất" giữa nguyên đơn là ông Châu Thành T và bị đơn là bà Trần Thị M tại thửa 75, diện tích 780m2 tờ bản đồ số 53 xã P (theo hệ thống BĐĐC mới), đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật xem xét thực hiện giải quyết theo quy định.

Trên đây là ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, kính gửi đến Tòa án xem xét giải quyết theo quy định.

* Người làm chứng ông Bùi Thanh N trình bày tại hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm:

Ông không có quan hệ họ hàng hay mâu thuẫn gì với vợ chồng ông T và vợ chồng bà M, ông T2. Ông có đất gần với đất của ông Châu Thành T. Ông biết năm 1991 ông T có mua của ông Nguyễn Tấn Đ diện tích đất khoảng 800m² với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) giáp ranh với phần đất của ông T khai hoang. Ông T sử dụng từ năm 1991 cho đến nay, ông T trồng lúa rồi chuyển sang trồng mía liên tục không bỏ hoang. Theo giấy sang bán ruộng ngày 06/10/1991 của bà M, ông T2 cung cấp thì phần đất ông bà mua của ông Đ diện tích 18,8 công (tầm 2,8m) tọa lạc tại Lá nhà thờ. Như vậy, phần đất ở Lá nhà thờ thì có vị trí cách phần đất ông T đang tranh chấp khoảng 1km, không phải là vị trí thuộc 01 phần thửa số 17 tờ bản đồ số 25 nay thửa mới 75 tờ bản đồ số 53 xã P. Về yêu cầu khởi kiện của ông T thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Người làm chứng ông Bùi Văn S trình bày tại hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm:

Ông không có quan hệ họ hàng hay mâu thuẫn gì với vợ chồng ông T và vợ chồng bà M, ông T2. Gia đình ông canh tác ruộng cặp với đất ông Châu Thành T. Ngày 01/4/1991 ông T có nhờ ông đi ra nhà ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1953, ngụ tại phía sau nhà thờ, ấp A xã P, huyện N để hai bên thương lượng rồi tiến hành làm giấy chuyển nhượng phần đất diện tích 800m² với giá 500.000đồng (năm trăm nghìn đồng), ông có chứng kiến và ký tên tại cột người làm chứng giấy chuyển nhượng ruộng ngày 01/4/1991 lập giữa ông T và ông Đ. Ông canh tác đất giáp ranh với đất của ông T và có cày xới đất cho ông T nên ông biết từ năm 1991 cho đến nay thì ông T là người canh tác trồng lúa và trồng mía.

Theo giấy sang bán ruộng ngày 06/10/1991 của bà M, ông T2 cung cấp thì phần đất ông bà mua của ông Đ diện tích 18,8 công (tầm 2,8m) tọa lạc tại Lá nhà thờ. Như vậy, phần đất ở Lá nhà thờ thì có vị trí cách phần đất ông T đang tranh chấp khoảng 1km, không phải là vị trí thuộc 01 phần thửa số 17 tờ bản đồ số 25 nay thửa mới 75 tờ bản đồ số 53 xã P. Về yêu cầu khởi kiện của ông T thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Người làm chứng ông Nguyễn Văn T3 trình bày :

Ông là em rể của ông T2, bà M. Ông T2, bà M có nhờ ông đứng khai phần diện tích đất 13.699m², thuộc thửa số 17, tờ bản đồ số 25 xã P. Việc kê khai ông chỉ khai vào sổ của UBND xã P nên trong hồ sơ Tòa án thu thập tại Văn phòng đăng ký thì hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông không có giấy kê khai đăng ký là đúng. Khi đăng ký kê khai thì ông không nộp kèm theo giấy sang nhượng ruộng ngày 06/10/1991 lập giữa vợ chồng ông T2, bà M và vợ chồng ông Đ, mà bản chính giấy này do vợ chồng bà M đang giữ. Ông chỉ kê khai về mặt thủ tục còn phần đất thửa số 17 tờ bản đồ số 25 xã P thì ông không quản lý, sử dụng. Tại giấy sang bán ruộng ngày 06/10/1991 của bà M, ông T2 cung cấp

thì phần đất ông bà mua của ông Đ diện tích 18,8 công (tầm 2,8m) tọa lạc tại Lá nhà thờ. Ở xã P có phần đất gọi là L nhà thờ nhưng cách vị trị đất hai bên đang tranh chấp khoảng 1km. Năm 2007 ông đã lập thủ tục tặng cho lại bà M diện tích 13.699m², thuộc thửa số 17, tờ bản đồ số 25 xã P. Qua yêu cầu khởi kiện của ông T thì ông không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tại bản án sơ thẩm số: 61/2024/DSST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch đã tuyên xử:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Châu Thành T về việc “Tranh chấp chấp quyền sử dụng đất” đối với bị đơn bà Trần Thị M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T2.
  • Công nhận quyền sử dụng đất diện tích đất 780m² thửa mới 75 tờ bản đồ số 53 xã P được giới hạn bởi các mốc 1,2,3,4,1 theo trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 69/2023 ngày 19/01/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ2 – chi nhánh N3 của ông Châu Thành T.
  • Kiến nghị Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 532837 cấp cho bà M, ông T2 ngày 20/5/2021 đối với diện tích 780m² thuộc thửa số 75, tờ bản đồ số 53 xã P.
  • Ông T có quyền, nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích 780m² thuộc thửa 75 tờ bản đồ số 53 xã P.
  • Ngoài ra bản án còn tuyên về phần chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

* Ngày 05/9/2024 bị đơn bà M kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 61/2024/DSST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai và đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Ngày 10/9/2024 Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch ban hành Quyết định số 50/QĐ-VKS-DS kháng nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm số 61/2024/DSST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm theo hướng sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật. Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ

giữa những người tham gia tố tụng, thời hạn thu thập tài liệu, thu thập chứng cứ, thời hạn cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng là đúng theo quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về hướng giải quyết vụ án:

+Xét nguồn gốc đất: Cả nguyên đơn và bị đơn đều cho rằng đất đang tranh chấp có nguồn gốc mua của ông Nguyễn Tấn Đ bằng hình thức giấy tay vào năm 1991, khi mua ông Đ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa có số tờ, số thửa, vị trí và diện tích đất cụ thể. Cả hai bên đều cung cấp chứng cứ là giấy tay sang nhượng ruộng, có chữ ký mang tên Nguyễn Tấn Đ. Ông Đ thì khai ông chỉ bán đất cho bà M, chứ không bán đất cho ông T, không phải chữ ký của ông trong giấy bán đất cho ông T. Căn cứ Kết luận giám định số 336/KL-KTHS ngày 22/7/2025 của V - Phân viện KHHS tại TP .: “Chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Tấn Đ dưới mục Người bán trên “Giấy chuyển nhượng ruộng” cho ông Châu Thành T đề ngày 01/4/1991 so với chữ viết, chữ ký dùng làm mẫu so sánh đứng tên Nguyễn Tấn Đ không phải do cùng một người ký ra”. Như vậy, đủ cơ sở kết luận chữ ký mang tên ông Đ trong giấy ông Đ bán đất cho ông T không phải của ông Đ; ông Đ không bán đất cho ông T mà bán đất cho bà M. Kết luận này phù hợp với lời khai ông Đ là không ký giấy chuyển nhượng đất cho ông T.

+Quá trình quản lý, sử dụng: diện tích đất 780m² thuộc thửa số 75, tờ bản đồ số 53 xã P mà ông T đang tranh chấp là do ông T quản lý, sử dụng, canh tác từ năm 1991 cho đến nay.

+Quá trình đăng ký, kê khai, cấp giấy CNQSD: Căn cứ tài liệu do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ2 chi nhánh N3 cung cấp cho Tòa án thể hiện: Diện tích 780m² thuộc thửa số 75, tờ bản đồ số 53 xã P có nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn T3. Ngày 09/4/1999 ông Nguyễn Văn T3 được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất L125406 đối với tổng diện tích 24.026m² trong đó có diện tích 13.699m² thuộc thửa số 17 tờ bản đồ số 25 cũ xã P. Ngày 04/5/2007 tại UBND xã P ông Nguyễn Văn T3 lập hợp đồng tặng cho bà Trần Thị M quyền sử dụng đất diện tích đất 13.699m² thuộc thửa số 17 tờ bản đồ số 25 cũ xã P. Ngày 15/8/2007 UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 071104 cho bà Trần Thị M đối với diện tích 13.699m² thuộc thửa số 17 tờ bản đồ số 25 cũ xã P. Thửa số 17 tờ bản đồ số 25 (bản đồ thành lập năm 1997) xã P theo bản đồ địa chính mới thành lập năm 2008 gồm các thửa số 114, 113, 76, 75 tờ bản đồ số 53 xã P. Trong đó thửa số 114, 113, 76 tờ bản đồ số 53 xã P đã được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 293076, BH 293075, BH 293074 cấp ngày 05/12/2011

dạng đồng loạt cho bà M và ông T2. Riêng thửa số 75 tờ bản đồ số 53 diện tích 780m² (theo bản đồ địa chính mới) thì ngày 19/01/2021 bà M, ông T2 có đơn xin đăng ký cấp đổi. Theo biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 19/01/2021 của UBND xã P xác nhận bà M đăng ký sót phần đất thửa 75, tờ bản đồ số 53 xã P, đồng thời xác nhận phần đất này bà M quản lý sử dụng ổn định, không tranh chấp. Sau đó, Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 532837 ngày 20/5/2021 cho bà M, ông T2.

Như vậy, chứng cứ này phù hợp với lời khai của bà M là sau khi mua đất ruộng của ông Đ, vợ chồng bà M cho ông T thuê để canh tác, khi thuê không làm hợp đồng, chỉ nói miệng. Khi đăng ký kê khai xin cấp giấy CNQSDĐ, do diện tích đất của bà M vượt quá hạn mức nhà nước cho phép nên bà có nhờ em rể là Nguyễn Văn T3 đăng ký kê khai, khi kê khai không nộp bản gốc Giấy sang bán ruộng ngày 06/10/1991, hiện vợ chồng bà vẫn còn giữ giấy tay này và đã nộp cho Tòa.

Từ những chứng cứ nêu trên đã đủ cơ sở pháp lý xác định thửa đất số 75 tờ bản đồ số 53 diện tích 780m² thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà M, ông T2; việc Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy CNQSDĐ cho bà M, ông T2 là đúng quy định của Luật đất đai. Việc ông T khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất này cho ông T là không có căn cứ chấp nhận.

Vì lẽ trên, chấp nhận kháng cáo bà M và ông T2, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND huyện Nhơn Trạch, sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T.

Đề xuất quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 2, điều 308 BLTTDS:

  • -Chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị M và ông Lê Văn T2;
  • -Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 50/QĐ-VKS-DS ngày 10/9/2025 của Viện trưởng VKSND huyện Nhơn Trạch;
  • -Sửa bản án sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 29/8/2024 của TAND huyện Nhơn Trạch theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T2 làm trong thời hạn luật

định, nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch ban hành Quyết định số 50/QĐ-VKS-DS Ngày 10/9/2024 kháng nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm số 61/2024/DSST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm theo hướng sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Quyết định kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch ban hành trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

- Tại phiên tòa phúc thẩm ông Lê Huy H đại diện ông Châu Thành T có đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai trưng cầu giám định “Giấy sang bán ruộng” ghi ngày 06/10/1991 giữa ông Đ và bà M, với yêu cầu giám định về năm sản xuất giấy? giấy viết có bị sửa chữa hay không? chữ viết và chữ ký có phải của ông Đ hay không.

Xét thấy, việc yêu cầu giám định của nguyên đơn là không cần thiết. Bởi vì, “Giấy sang bán ruộng” ghi ngày 06/10/1991 đã được ông Đ thừa nhận là chữ viết và chữ ký của ông. Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh được quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó không chấp nhận đề nghị giám định của nguyên đơn.

[2] Về kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị M đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn cho rằng phần đất tranh chấp có diện tích 780m² thuộc thửa 75 tờ bản đồ số 53 xã P là của nguyên đơn ông T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1953, cư ngụ ấp A, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, hiện nay ông Đ đã về sống ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phần diện tích đất khoảng 800m² với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), có viết giấy chuyển nhượng ruộng ghi ngày 01/4/1991 lập giữa ông T và ông Đ.

Đối với bị đơn thì cho rằng phần đất tranh chấp là mua lại của ông Đ có viết giấy sang bán ruộng ghi ngày 06/10/1991 có diện tích 18,8 công (tầm 2,8m).

Như vậy, về nguồn gốc đất tranh chấp xác định là của ông Nguyễn Tấn Đ, do các bên đương sự mua lại của ông Đ. Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh được quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 19/3/2025 ông Đ trình bày: “Phần đất tranh chấp có diện tích 780m² thuộc thửa 75 tờ bản đồ số 53 xã P nguồn gốc trước đây là của ông vào ngày 06/10/1991 đã chuyển nhượng lại cho bà M, ông T2. Tờ giấy sang bán ruộng ngày 06/10/1991 do vợ ông - bà N1 (đã chết) viết

trong giấy nêu trên có ghi vị trí tại “Lá nhà thờ” là do vợ ông ghi nhầm, nhưng có ghi tứ cận các người sử dụng đất là đúng.

Đối với tờ giấy chuyển nhượng ruộng ghi ngày 01/4/1991 lập giữa ông T và ông Đ do ông T cung cấp không phải là chữ viết, chữ ký của ông, ông không có bán ruộng đất cho ông T”.

Các đương sự có đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký tên Nguyễn Tấn Đ dưới mục “Người bán” trên giấy chuyển nhượng ruộng ghi ngày 01/4/1991 lập giữa ông T và ông Đ.

Tòa án đã thu thập mẫu cần giám định là 01 “Giấy chuyển nhượng” đề ngày 01/4/1991(ký hiệu A) do nguyên đơn cung cấp.

Mẫu so sánh, tài liệu liên quan gồm có:

  • . 01 “Giấy sang bán ruộng” đề ngày 06/10/1991 (ký hiệu M1) do bị đơn cung cấp có chữ viết, chữ ký Nguyễn Tấn Đ.
  • . 01 “Bản chữ ký, chữ viết của ông Nguyễn Tấn Đ” đề ngày 19/3/2025 (ký hiệu M2).
  • . 01 “Giấy xác nhận” đề ngày 24/9/2019 (ký hiệu M3) có chữ viết, chữ ký Nguyễn Tấn Đ.
  • . 01 “Đơn xin vắng mặt” đề ngày 24/5/2022 (ký hiệu M4) có chữ viết, chữ ký Nguyễn Tấn Đ.
  • . 01 “Biên bản lấy lời khai đương sự” đề ngày 24/5/2022 (ký hiệu M5) có chữ viết, chữ ký Nguyễn Tấn Đ.

Tại kết luận giám định số 336/KT-KTHS ngày 22/7/2025 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: Chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Tấn Đ dưới mục “Người bán” trên tài liệu ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết dùng làm mẫu so sánh đứng tên Nguyễn Tấn Đ trên các tài liệu ký hiệu từ M1 đến M5 là không phải là do một người viết, ký ra.

Như vậy việc nguyên đơn cung cấp chứng cứ là mua đất của ông Đ không được ông Đ thừa nhận, tờ giấy giấy chuyển nhượng ruộng ghi ngày 01/4/1991 lập giữa ông T và ông Đ, đã kết luận không phải chữ viết, ký của ông Đ.

Đối với bị đơn được ông Đ thừa nhận có chuyển nhượng đất, bị đơn đã được cấp giấy CNQSDĐ lần đầu và cấp đổi đúng quy định của pháp luật. Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh được quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà M, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

[3] Về đăng ký quyền sử dụng đất:

Ngày 09/4/1999, UBND huyện N cấp giấy CNQSDĐ số L 125406 cho hộ ông Nguyễn Văn T3 đối với thửa đất số 17, tờ bản đồ số 25 (cũ), xã P, diện tích 13.699m² (Ông T3 là em của bà M, ông T3 đứng tên giùm bà M).

Sau đó, ông Nguyễn Văn T3 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị M đối với thửa đất số 17, tờ bản đồ số 25 (cũ), xã P và được UBND xã P chứng thực ngày 04/5/2007, số 299, quyền số 01-TP/CC-SCT/HĐGD. Đến ngày 15/8/2007, UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 071104 cho bà Trần Thị M đối với thửa đất sô 17, tờ bản đồ số 25 (cũ), xã P, diện tích 13.699m².

Năm 2009 thành lập bản đồ địa chính mới thì thửa đất số 17, tờ bản đồ số 25 (cũ 1997), xã P tương ứng với các thửa đất số 75, 76, 113, 114, tờ bản đồ số 53 (mới 2009), xã P.

Ngày 09/4/2010, ông Lê Văn T2 và bà Trần Thị M có đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với một phần thửa đất số 17, tờ bản đồ số 25 (cũ), xã P tương ứng thửa đất số 76, 113, 114, tờ bản đồ số 53 (mới), xã P được Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện N thẩm tra xác nhận ngày 12/8/2011. Đến ngày 30/12/2011, UBND huyện cấp các giấy CNQSDĐ số BH 293074 đối với thửa đất số 76, diện tích 4.422m², giấy CNQSDĐ số BH 293075 đối với thửa đất số 113, diện tích 3.848m² và giấy CNQSDĐ số BH 293076 đối với thửa đất số 114, diện tích 2.608m², cùng thuộc tờ bản đồ số 53 (mới), xã P cho ông Lê Văn T2 và bà Trần Thị M. (Tổng diện tích đất 3 thửa là 10.878m²)

Ngày 19/01/2021, ông Lê Văn T2 và bà Trần Thị M có đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với một phần thửa đất số 17, tờ bản đồ số 25 (cũ), xã P tương ứng thửa đất số 75, tờ bản đồ số 53 (mới), xã P, được UBND xã P xác nhận ngày 19/01/2021 và Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh - Chi nhánh N3 thẩm tra xác nhận ngày 14/5/2021. Đến ngày 20/5/2021, ông Lê Văn T2 và bà Trần Thị M được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy CNQSDĐ số DB 532837 đối với thửa đất 75, tờ bản đồ số 53 (mới), xã P, diện tích 780m2.

Như vậy sau khi cấp đổi thì bị đơn được cấp tổng diện tích là 11.658m² giảm hơn so với cấp lần đầu. Bị đơn được cấp giấy CNQSDĐ đúng với vị trí mua của ông Đ, có đăng ký quyền sử dụng đất là đúng quy định của pháp luật.

Cấp sơ thẩm đã công nhận phần đất tranh chấp cho nguyên đơn là không đúng quy định của pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Do đó chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà M, sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Về Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 50/QĐ-VKS-DS ngày 10/9/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, đề nghị sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Kháng nghị đã nhận định:

“Bản án tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đánh giá chứng cứ chưa khách quan, toàn diện vi phạm Điều 108 Bộ luật tố tụng dân sự làm thiệt hại đền quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Bởi lẽ, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:

Nguyên đơn ông Châu Thành T đưa ra giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay với ông Nguyễn Tấn Đ ghi ngày 01/4/1991 không được ông Đ thừa nhận và đã kết luận không phải chữ viết, ký của ông Đ.

Đối với bị đơn mua đất của ông Đ được ông Đ thừa nhận, bà M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AK 071104 diện tích 13.699m2, thửa 17, tờ bản đồ số 25 xã P. Khi đo đạc thành lập bản đồ mới thì đất bà M sử dụng tương ứng với các thửa đất số 114 (2.608m²), 113 (34.848m²), 76 (4.422m²), 75 (780m²) tờ bản đồ số 53 (Bút lục số 188). Đến ngày 20/5/2021, bà Trần Thị M được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Mặt khác, ông T cho rằng ông đã canh tác nhận chuyển nhượng từ năm 1991 nhưng ông T không có đăng ký kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ những phân tích như đã nêu trên, bản án chỉ dựa vào quá trình canh tác, quản lý và ý kiến của nhân chứng ông S để nhận định diện tích đất 780m² thửa mới 75 tờ bản đồ số 53 xã P được giới hạn bởi các mốc 1,2,3,4,1 theo trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 69/2023 ngày 19/01/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ2 - chi nhánh N3 là của ông Châu Thành T là chưa đúng quy định pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bị đơn. Do đó, đề nghị Tòa phúc thẩm. Áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa Bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Châu Thành T về việc “Tranh chấp chấp quyền sử dụng đất” đối với bị đơn bà Trần Thị M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T2”.

Xét thấy, Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch là đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[5] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Ông Châu Thành T thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Trần Thị M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm.

- Về chi phí tố tụng: Ông Châu Thành T phải chịu 24.896.000đồng (hai mươi bốn triệu, tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng) ông T đã nộp xong.

- Về chi phí giám định: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị M chịu 7.061.000 đồng. Bà M đã nộp xong.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T2;

Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 50/QĐ-VKS-DS ngày 10/9/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 184, Điều 227, 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều Điều 166, 170, 203 Luật đất đai năm 2013

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Châu Thành T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bị đơn bà Trần Thị M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T2.

2. Về chi phí tố tụng:

  • Ông Châu Thành T phải chịu 24.896.000đồng (hai mươi bốn triệu, tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng) ông T đã nộp xong.
  • Về chi phí giám định: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị M chịu 7.061.000 đồng. Bà M đã nộp xong.

3. Về án phí:

  • Ông Châu Thành T thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Về án phí phúc thẩm: Bà Trần Thị M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Trần Thị M 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0018327 ngày 20/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh ĐN;
  • - TAND khu vực 2;
  • - Phòng THADS khu vực 2;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Vĩnh Yên

18

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 392/2025/DS-PT ngày 20/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 392/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Châu Thành T - Trần Thị M - Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger