|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 392/2024/DS-PT
Ngày 01-08-2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: | Ông Bùi Ngọc Thạch |
| Các Thẩm phán: | Ông Huỳnh Văn Luật |
| Bà Nguyễn Thị Huyền |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Bà Trần Thị Phước - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 25 tháng 7 và ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 272/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 7 năm 2023, về việc “Tranh chấp quyền sử đất".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2022/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 462/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân V, sinh năm 1972; địa chỉ: số B, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Bị đơn:
- - Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ C, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị H1: Ông Phạm Phú Q, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ C, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (Hợp đồng ủy quyền ngày 10/5/2021); có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1962; địa chỉ: tổ C, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- - Bà Phạm Thị T, sinh năm 1948; địa chỉ: số A, tổ B, khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Thanh V1, sinh năm 1984; địa chỉ: số A, tổ B, khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1981; địa chỉ: số A, đường T, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- - Ông Vũ Khắc C, sinh năm 1972; địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Hòa Bình; vắng mặt.
- - Bà Hồ Thị G1, sinh năm 1980; địa chỉ: tổ B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- - Ông Trần Văn A, sinh năm 1974; địa chỉ: tổ B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- - Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Xuân V là nguyên đơn.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn H, sinh năm 1982; địa chỉ: số B, đường số C, tổ A, khu phố E, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 19/9/2020); có mặt.
Ông Phạm Phú Q, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ C, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Tháng 9 năm 2015, ông Nguyễn Xuân V nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị G phần đất diện tích 632m², thuộc thửa đất số 793, tờ bản đồ số 10 tại khu phố B, phường T, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương và sử dụng đến tháng 02/2019 không bị ai khiếu nại hay tranh chấp gì. Đến tháng 02/2019, vợ chồng bà H1, ông Q san lấp thửa đất số 749, giáp ranh với thửa đất số 793 của ông V, thì vợ chồng bà H1, ông Q san lấp cả phần hàng rào ranh giới giữa thửa 749 của bà H1, ông Q với thửa 793 của ông V, ông V hỏi lý do thì bà H1 nói do xe san lấp lỡ làm sập tường và sẽ khắc phục trong thời gian sớm nhất. Sau đó bà H1 và ông Q không khắc phục tường rào cho ông V mà còn chiếm luôn phần đất chiều ngang 03m và chiều dài 34m, tổng diện tích 102m² thuộc thửa đất số 793, tờ bản đồ số 10, thửa đất này ông V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông V khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị H1 và ông Phạm Phú Q tháo dỡ các tài sản gắn liền với đất tranh chấp, thuộc một phần thửa đất số 793 tờ bản đồ số 10 tại phường T, thành phố T gồm: 10 trụ sắt phi 90; 01 bảng hiệu quán cà phê; 01 cây vối 02 năm tuổi; 01 cây xanh 01 năm tuổi; 01 phần nhà tạm quán cà phê có kết cấu mái lá, cột sắt phi 90, kèo gỗ, nền xi măng và 01 phần nhà tạm phía sau đất tranh chấp có kết cấu mái tôn, vách tôn, cột sắt, kèo sắt và nền xi măng, trả lại cho ông Vĩnh phần đất có chiều ngang 03m, chiều dài 34m, tổng diện tích 102m² thuộc thửa đất số 793, tờ bản đồ số 10 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, nguyên đơn không đồng ý.
Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và ông Phạm Phú Q trình bày:
Vợ chồng bà H1 và ông Q là chủ sử dụng thửa đất 749 tờ bản đồ số 10 diện tích 256,7m² tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, được Ủy ban nhân dân (sau đây viết là UBND) thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09110 ngày 15 tháng 3 năm 2018, cho bà Nguyễn Thị H1. Nguồn gốc thửa đất là nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Vũ Khắc C, bà Đoàn Thị O theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25/01/2018. Sau khi nhận chuyển nhượng thì bà H1 và ông Q sử dụng ổn định cho đến nay.
Qua xem xét hồ sơ cấp đất của các thửa liên quan bà H1, ông Q thấy việc UBND thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị G, ông Nguyễn Xuân V không đúng quy định, có một phần đất bị cấp trùng lên thửa đất số 749 mà bà H1 và ông Q đang quản lý, sử dụng, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà H1, ông Q, cụ thể như sau:
Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06194 ngày 08/4/2016 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Vũ Khắc C, tại mục III (sơ đồ thửa đất) thể hiện thửa 749 giáp ranh với các thửa 569, 828 và 793. Phù hợp với Bản mảnh trích lục địa chính ngày 03/01/2018 (trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09110 ngày 15/3/2018) do ông Võ Phi H2 (Phó Giám đốc Chi nhánh VPĐK đất đai thị xã T ký ban hành). Phù hợp với Mục 3 (sơ đồ thửa đất) tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09110 ngày 15/3/2018 cấp cho bà Nguyễn Thị H1. Sơ đồ thửa đất thể hiện vị trí thửa 793 là nằm ở phía sau thửa 749 và không thể hiện thửa 793 có tiếp giáp đường đất (nay là đường nhựa).
Hồ sơ cung cấp thông tin việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện thửa đất số 749 trải qua nhiều chủ sử dụng đất, cụ thể:
Thửa số 749 có diện tích 940m², hình thành năm 2008 trên cơ sở tách từ thửa đất số 726 trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01288 ngày 17/5/1999 cấp cho ông Nguyễn Văn T2. Ông T2 tặng cho con là bà Nguyễn Thanh T1, bà T1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 02414 ngày 22/5/2008. Vị trí thửa đất trên sơ đồ thể hiện thửa số 726 và thửa số 749 có cạnh hướng T tiếp giáp thửa số 569, hướng Tây Nam giáp thửa số 570 (không phải thửa số 793).
Đến ngày 12/01/2009 thửa số 749 được UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đồng chủ sử dụng là chị em bà Nguyễn Thanh T1, bà Nguyễn Thanh V1 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 04300), diện tích, vị trí thửa đất không thay đổi.
Đến năm 2014 thửa số 749 được tách thành 02 thửa, gồm thửa số 749 diện tích 426,5m² và thửa số 806 diện tích 513,5m². Thửa 749 được chuyển nhượng cho bà Hồ Thị G1, bà G1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 04528 ngày 14/10/2014. Vị trí thửa đất số 749 có thay đổi, tại hướng Tây Nam không thể hiện tiếp giáp thửa 570 mà giáp thửa số 793.
Năm 2015 thửa 749 được tách thêm thành 02 thửa, gồm thửa số 749 diện tích 256,7m² và thửa số 828 diện tích 169,8m². Thửa 749 được chuyển nhượng cho ông Bùi Văn P. Ông P được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 05133 ngày 25/3/2015. Vị trí của thửa đất số 749 tại hướng T vẫn giáp thửa 569 và hướng Tây Nam tiếp giáp thửa 793.
Đến ngày 15/4/2015 ông Bùi Văn P chuyển nhượng hết thửa 749 cho bà Đinh Thị L, bà L được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05359 ngày 25/5/2015. Vị trí thửa đất 749 vẫn thể hiện hướng T vẫn giáp thửa số 569 và hướng Tây Nam tiếp giáp thửa số 793.
Đến ngày 03/3/2016 bà Đinh Thị L chuyển nhượng toàn bộ thửa số 749 cho ông Vũ Khắc C, ông C được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06194 ngày 08/4/2016. Vị trí thửa đất số 749 vẫn thể hiện hướng Tây Bắc giáp thửa số 569 và hướng Tây Nam tiếp giáp thửa số 793.
Ngày 25/01/2018, ông Vũ Khắc C chuyển nhượng toàn bộ thửa số 749 cho bà H1 và ông Q, bà H1 và ông Q được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09110 ngày 15/3/2018. Vị trí thửa đất 749 thể hiện hướng Tây Bắc giáp thửa số 569 và hướng Tây Nam tiếp giáp thửa số 793.
Đối với lịch sử hình thành và sử dụng thửa đất số 793, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện thửa đất số 793 được cấp lần đầu cho bà Nguyễn Thị G vào ngày 11/3/2015, nguồn gốc đất là “Công nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền sử dụng đất” trên cơ sở đơn xin đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị G ngày 18/11/2014. Sơ đồ vị trí của thửa số 793 có một phần tiếp giáp đường đất (nay là đường nhựa) và nằm giữa thửa số 749 và thửa số 810 (thửa số 810 được tách ra từ thửa số 569).
Thống kê lịch sử hình thành, quá trình sử dụng và sơ đồ vị trí của hai thửa đất số 749 và 793 thì thửa số 749 được hình thành trước và có cạnh hướng T tiếp giáp thửa số 569, không thể hiện tiếp giáp thửa số 793 và thửa số 793 không có phần nào tiếp giáp đường mà chỉ tiếp giáp với cạnh hướng Tây Nam của thửa số 749.
Bà H1 và ông Q thấy có sai sót từ việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị G:
- - Thứ nhất: Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà G không có tài liệu thể hiện việc đo đạc thực tế, không thể hiện ký giáp ranh của các chủ thửa đất liền kề, không có tài liệu thể hiện việc điều chỉnh giảm diện tích của các thửa liền kề gồm thửa số 569 (810) hay thửa số 749, vì các thửa này đã tồn tại trên thực tế, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- - Thứ hai: Thửa đất số 569 (sau này tách ra thửa số 810) và thửa số 749 là hai thửa giáp ranh và tồn tại trước năm 2015, đến năm 2015 thửa 793 mới hình thành, tuy nhiên sơ đồ thửa số 793 có một phần chiều ngang khoảng 3m x chiều dài khoảng 33 m chen vào giữa thửa số 810 và thửa số 749, điều này chỉ có thể xảy ra nếu thửa số 810 hoặc thửa số 749 phải có sự điều chỉnh giảm diện tích, nhưng hồ sơ không thể hiện. Thực tế sử dụng đất thì bà Nguyễn Thị G không trực tiếp sử dụng phần đất này.
- - Thứ ba: Trước khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa số 793 cho bà G thì bà G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa phía trong kế thửa số 793 gồm các thửa số: 570, 571, 668, 669, 670, 671,672, 673, 679, 680, 681, 714, 715, 716. Các thửa đất này đều không có tiếp giáp đường công cộng. Ngay sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 793 thì bà G chuyển nhượng toàn bộ các thửa đất này cho ông Nguyễn Xuân V.
- - Thứ tư: Bị đơn xác định phần đất tranh chấp hiện tại do bị đơn đang quản lý sử dụng, trên đất có các cây trồng và nhà tạm của bị đơn. Ngoài ra, phần đất tranh chấp cao hơn so với phần đất của nguyên đơn khoảng 1,5m.
Vì vậy, bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 có yêu cầu phản tố, cụ thể: Yêu cầu Tòa án kiến nghị Ủy ban nhân dân thị xã T thu hồi và điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH05307 cấp ngày 11 tháng 5 năm 2015 cho ông Nguyễn Xuân V đối với phần đất có diện tích ngang 03m, dài 33,06m thuộc thửa đất số 793, tờ bản đồ số 10 tại khu phố B, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị G trình bày:
Phần đất thuộc thửa đất số 793 đang tranh chấp giữa ông V với bà H1, ông Q có nguồn gốc do cha mẹ bà G để lại cho bà G, bà G trực tiếp quản lý sử dụng. Đến tháng 3/2015 bà G làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất và được UBND thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 09/4/2015 bà G chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất thuộc thửa đất số 793, tờ bản đồ số 10 cho ông V. Đối với phần đất đang tranh chấp bà G xác nhận phần đất này nằm trong thửa đất số 793, tờ bản đồ số 10 mà bà G đã chuyển nhượng cho ông V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T trình bày:
Nguồn gốc đất của thửa đất số 749, tờ bản đồ số 10 là do ông bà để lại cho gia đình bà T đã được UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01288/QSDĐ/TU ngày 17-5-1999 cho hộ ông Nguyễn Văn T2. Vào năm 2008 gia đình bà Tào T3 cho đất cho con là Nguyễn Thanh T1 nên đã làm thủ tục tách thửa đất số 726 diện tích 3.378m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà Tào T4 thửa đất số 749 diện tích 940m²; thửa số 750 diện tích 347m² và thửa số 726 diện tích 2,451m². Ngày 29/4/2008, hộ gia đình bà Tào lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho con là Nguyễn Thanh T1 diện tích đất 940m² thuộc thửa đất số 749 tờ bản đồ số 10 tại ấp (nay là khu phố) Bà T5, xã (nay là phường) T, huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương và bà Nguyễn Thanh T1 được UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02414 ngày 22/5/2008. Đến năm 2009 bà Nguyễn Thanh T1 làm thủ tục cho em là Nguyễn Thanh V1 cùng đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04300 do UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho Nguyễn Thanh V1 và Nguyễn Thanh T1 ngày 12/01/2009. Sau khi duoc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà T1, bà V1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất lại cho ai bà T không biết, bà T chỉ đi ký giấy tờ làm thủ tục tặng cho con là Nguyễn Thanh T1 vì đất cấp cho hộ gia đình, nguồn gốc đất là của gia đình chồng bà T để lại cho chồng bà T là ông Nguyễn Văn T2 (chết năm 2015), bà T không trực tiếp, quản lý, sử dụng phần đất nêu, ngoài ra bà không biết gì thêm. Việc tranh chấp giữa ông Nguyễn Xuân V và bà Nguyễn Thị H1 bà T đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thanh V1 và bà Nguyễn Thanh T1 thống nhất trình bày:
Nguồn gốc đất của thửa đất số 749, tờ bản đồ số 10 là do ông bà để lại cho cha mẹ là ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị T6, đất được UBND huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01288/QSDĐ/TU ngày 17/5/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn T2. Vào năm 2008 cha mẹ tặng cho đất bà Nguyễn Thanh T1 nên làm thủ tục tách thửa đất số 726 diện tích 3.378m², đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông T2 thành thửa đất số 749 diện tích 940m²; thửa đất số 750 diện tích 347m², thửa số 726 diện tích 2,451m². Ngày 29/4/2008 hộ gia đình ông T2 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thanh T1 diện tích đất 940m², bà T1 được UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02414 ngày 22/5/2008. Năm 2009 bà T1 làm thủ tục để cho em là bà Nguyễn Thanh V1 đồng đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng số H04300 do UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho Nguyễn Thanh V1 và Nguyễn Thanh T1 ngày 12/01/2009. Ngày 24/5/2011 bà V1, bà T1 lập giấy tặng cho đất (để làm đường đi) cho bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp (nay là khu phố) Bà T5, xã (nay là phường) T, huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương phần đất có chiều ngang 03m, chiều dài hết thửa đất số 749 của chị em bà V1, bà T1. Trong giấy tặng cho đất, các bên thỏa thuận: Trường hợp nếu bên A (bên tặng cho) có nhu cầu chuyển nhượng thửa đất số 749 thì căn cứ theo quy định của pháp luật về quản lý đất đai tại thời điểm đó, nếu không tách thửa được phần đất mà bà V1, bà T1 tặng cho đất bà Nguyễn Thị G thì về mặt pháp lý, bà V1, bà T1 có chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 749, nhưng trên thực tế vẫn chừa lại con đường đi có chiều ngang 03m, chiều dài hết thửa đất 749 để bà Nguyễn Thị G sử dụng làm đường đi. Việc sử dụng con đường đi do bà Nguyễn Thị G và bên nhận chuyển nhượng đất tự thỏa thuận với nhau, chị em bà V1, bà T1 không có trách nhiệm trong việc thỏa thuận này.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 31/5/2022, người làm chứng bà Nguyễn Phương M, trình bày:
Phần đất thuộc thửa đất số 810, tờ bản đồ số 10 tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương do bà M nhận chuyển nhượng. Thửa đất của bà M khi nhận chuyển nhượng có giáp thửa 793, tờ bản đồ số 10 của ông V ở phía sau đất và giáp thửa 749 tờ bản đồ số 10 của bà H1 và ông Q ở hướng Đ. Trên thực tế sử dụng đất thì phần đất có diện tích 77m² không nằm trong thửa đất số 810, tờ bản đồ số 10 như mảnh trích lục địa chính đã thể hiện. Bà M xác định không tranh chấp và không có yêu cầu gì đối với ông V, bà H1 và ông Q. Khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hướng Đông Nam của thửa đất số 810, tờ bản đồ số 10 không tiếp giáp đường, chỉ tiếp giáp đất của bà H1, ông Q.
Kết quả đo đạc ngày 22/7/2020 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 (nay là thành phố) Tân Uyên thể hiện: diện tích đất tranh chấp là 90m². Kết quả định giá xác định: giá đất nông nghiệp là 8.000.000 đồng/m² và định giá chi tiết các cây trồng trên phần đất tranh chấp. Các đương sự thống nhất với kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng Đ1 (nay là thành phố) Tân Uyên và kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2022/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương tuyên xử:
Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng Điều 180, Điều 183, Điều 185, Điều 236 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100, 101 Luật đất đai năm 2013.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân V về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và ông Phạm Phú Q, cụ thể: Yêu cầu bà Nguyễn Thị H1 và ông Phạm Phú Q phải tháo dỡ các tài sản gắn liền với đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 793 tờ bản đồ số 10 tại phường T, thị xã T gồm: 10 trụ sắt phi 90; 01 bảng hiệu quán cà phê; 01 cây vối 02 năm tuổi; 01 cây xanh 01 năm tuổi; 01 phần nhà tạm quán cà phê có kết cấu mái lá, cột sắt phi 90, kèo gỗ, nền xi măng và 01 phần nhà tạm phía sau đất tranh chấp có kết cấu mái tôn, vách tôn, cột sắt, kèo sắt và nền xi măng trả lại cho ông Vĩnh phần đất có chiều ngang 03m và chiều dài 34m, tổng diện tích 102m² thuộc thửa đất số 793, tờ bản đồ số 10 tại phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị H1 đối với nguyên đơn ông Nguyễn Xuân V, cụ thể như sau: Kiến nghị Ủy ban nhân dân thị xã T thu hồi và điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH05307 cấp ngày 11-5-2015 cho ông Nguyễn Xuân V theo hiện trạng thực tế sử dụng đất.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/9/2022, ông Nguyễn Xuân V là đại diện nguyên đơn có đơn kháng cáo, yêu cầu bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Phú Q1 trả lại cho ông Vĩnh phần đất có chiều ngang 03m, chiều dài hết thửa đất số 749.
Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: các thửa đất số 749 và 793 bị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trùng nhau, việc đất bị cấp trùng không do lỗi của các bên. Trong văn bản thỏa thuận tặng cho đất ngày 24/5/2011 bà V1, bà T1 có cho bà G một con đường đi và không chịu trách nhiệm về mặt pháp luật, trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà G không thể hiện lối đi, nhưng thực tế có lối đi. Quá trình sử dụng đất tranh chấp từ năm 2011 là lối đi, trên lối đi này hiện nay có đường dây điện của ông V kéo qua đất. Khi ông V kéo đường dây điện ông Q1 bà H1 biết. Để đảm bảo quyền lợi của các bên đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân V, ông Vĩnh Đ quyền sử dụng phần đất có chiều ngang 03 m, chiều dài hết thửa đất số 749, ông V phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Q1, bà H1.
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân V làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đương sự đã nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án được Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết là hợp lệ.
Những người tham gia tố tụng bà Nguyễn Thị G, Phạm Thị T, Nguyễn Thanh V1, nguyễn Thanh T1, ông Vũ Khắc C1, bà Hồ Thị G1, ông Trần Văn A và UBND có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử phúc thẩm vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về nội dung:
Nguyên đơn cho rằng: Ngày 09/4/2015, bà Nguyễn Thị G chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất thuộc thửa số 793, tờ bản đồ số 10 tại khu phố B, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương được UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho bà Nguyễn Thị G theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 05044 ngày 20/3/2015 cho ông Nguyễn Xuân V. Trên thửa đất 793, tờ bản đồ số 10 có phần đất tranh chấp chiều dài 34m chiều ngang 3m tiếp giáp với thửa đất. Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà G, ông V làm một đường dây điện 3 pha trên vùng đất tranh chấp. Vì vậy ông V yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và ông Phạm Phú Q trả lại phần đất tranh chấp nêu trên.
Bị đơn cho rằng: Vợ chồng bà H1 và ông Q là chủ sử dụng thửa đất 749, tờ bản đồ số 10 diện tích 256,7m² tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, được Ủy ban nhân dân (sau đây viết là UBND) thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09110 ngày 15 tháng 3 năm 2018, cho bà Nguyễn Thị H1. Nguồn gốc thửa đất là nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Vũ Khắc C, bà Đoàn Thị O theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25/01/2018. Sau khi nhận chuyển nhượng thì bà H1 và ông Q sử dụng ổn định cho đến nay, tiếp giáp thửa đất 749 của bà Nguyễn Thị H1 là thửa số 828 và thửa số 869 ở hai bên và thửa đất số 793 của ông Nguyễn Xuân V nằm phía sau thửa đất 749 của bà Nguyễn Thị H1 do đó bị đơn bà Nguyễn Thị H1 đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân V.
Xét thấy thửa đất số 749, tờ bản đồ số 10 có nguồn gốc do ông bà để lại cho gia đình bà Phạm Thị Tào . Gia đình Bà T được UBND huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01288/QSDĐ/TU ngày 17/5/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn T2 (chồng của bà T). Quá trình sử dụng đất thửa đất số 749 được tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nhiều người. Đến ngày 12/01/2009 bà T1 làm thủ tục để cho em là bà Nguyễn Thanh V1 đồng đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng số H04300 do UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho Nguyễn Thanh V1 và Nguyễn Thanh T1 ngày 12/01/2009. Ngày 24/5/2011 bà V1, bà T1 lập giấy tặng cho đất (để làm đường đi) cho bà Nguyễn Thị G, phần đất có chiều ngang 03m, chiều dài đến hết thửa đất số 749 của chị em bà V1, bà T1. Sau đó thửa đất số 749 tiếp tục được chuyển nhượng cho nhiều người, đến ngày 08/4/2016 ông Vũ Khắc C chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị H1 ngày 25/01/2016. Bà H1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 286261, số vào sổ cấp GCN CS06194 ngày 08/4/2016.
- [3] Xét phần đất tranh chấp: Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 679015, số vào sổ cấp GCN CS09110 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Nguyễn Thị H1 ngày 15/3/2018 thuộc thửa số 793, tờ bản đồ số 10 thì cạnh hướng Đông Bắc của thửa đất số 749, tờ bản đồ số 10 không giáp thửa số 793, tờ bản đồ số 10 của ông V. Công văn số 455/CNTU-KT ngày 28/02/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 (nay là thành phố) Tân Uyên thể hiện: thửa đất số 749, tờ bản đồ số 10 tiếp giáp với thửa số 793, tờ bản đồ số 10 ở cạnh hướng Nam của thửa đất số 749, tờ bản đồ số 10.
Qua xem xét thẩm định tại chỗ ông Nguyễn Xuân V hiện đang quản lý sử dụng thửa đất số 806 và thửa đất số 827 tờ bản đồ số 10 làm lối đi vào thửa đất 793, tờ bản đồ 10 của ông V.
- [4] Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 793, tờ bản đồ số 10, khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà G, tại Công văn số 1674/CNTU-LT ngày 23/6/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 (nay là thành phố) Tân Uyên “Diện tích 632m² thuộc thửa số 793, tờ bản đồ số 10 đã được UBND thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào sổ CH05043 cho bà Nguyễn Thị G được hình thành trong quá trình đo đạc xác định lại diện tích sử dụng thực tế của bà Nguyễn Thị G tại thửa đất số 570. Tại thời điểm đo đạc xác định lại diện tích sử dụng đất của bà Nguyễn Thị G tại thửa đất số 570. Tại thời điểm đo đạc xác định lại diện tích sử dụng đất của bà Nguyễn Thị G có phát sinh phần diện tích 632m² (nay thuộc thửa đất số 793) hiện tại bà G đang sử dụng và diện tích nêu trên được chỉnh giảm từ thửa đất số 726 và một phần thửa đất số 749”. Tuy nhiên, theo hồ sơ trích lục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH05043 cho bà Nguyễn Thị G đối với thửa đất số 793 không thể hiện việc điều chỉnh giảm đối với thửa đất số 749, tờ bản đồ số 10 hiện tại do bà H1, ông Q quản lý sử dụng. Tại công văn số 2294/CNTU-LT ngày 15/8/2022 của Chi nhánh văn phòng Đ1 (nay là thành phố) Tân Uyên: “Căn cứ hồ sơ lưu trữ, hiện tại chi nhánh văn phòng không có hồ sơ chỉnh giảm diện tích đối với thửa 749, tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại phường T”. Như vậy, có căn cứ xác định thửa 749, tờ bàn đồ số 10 không điều chỉnh giảm để nhập vào thửa số 793, tờ bản đồ số 10.
- [5] Từ những nhận định trên, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận. Ý kiến của Kiểm sát viên là không phù hợp. Án phí sơ thẩm, phúc thẩm ông Nguyễn Xuân V phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều: 147; 148; khoản 1, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.;
- - Căn cứ các Điều: 122, 131, 328 của Bộ luật Dân sự;
- - Các Điều 5, 26, 166, 203 của Luật Đất đai năm 2013;
- - Căn cứ các Điều: 26, 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân V về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và ông Phạm Phú Q, cụ thể: Yêu cầu bà Nguyễn Thị H1 và ông Phạm Phú Q phải tháo dỡ các tài sản gắn liền với đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 793 tờ bản đồ số 10 tại phường T, thị xã T gồm: 10 trụ sắt phi 90; 01 bảng hiệu quán cà phê; 01 cây vối 02 năm tuổi; 01 cây xanh 01 năm tuổi; 01 phần nhà tạm quán cà phê có kết cấu mái lá, cột sắt phi 90, kèo gỗ, nền xi măng và 01 phần nhà tạm phía sau đất tranh chấp có kết cấu mái tôn, vách tôn, cột sắt, kèo sắt và nền xi măng trả lại cho ông Vĩnh phần đất có chiều ngang 03m và chiều dài 34m, tổng diện tích 102m² thuộc thửa đất số 793, tờ bản đồ số 10 tại phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị H1 đối với nguyên đơn ông Nguyễn Xuân V, cụ thể như sau: Kiến nghị Ủy ban nhân dân thị xã T thu hồi và điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH05307 cấp ngày 11-5-2015 cho ông Nguyễn Xuân V theo hiện trạng thực tế sử dụng đất.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Về án phí:
- - Án phí sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Xuân V phải chịu 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0037445 ngày 13/12/2019 và Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0052450 ngày 20/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên. Hoàn trả cho ông Nguyễn Xuân V số tiền 16.400.000 đồng (mười sáu triệu bốn trăm nghìn đồng).
- - Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Xuân V phải nộp 300.000 đồng được trừ vào 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006254 ngày 30/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Huỳnh Văn Luật Nguyễn Thị Huyền |
Bùi Ngọc Thạch |
12
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Thạch |
SƠ ĐỒ KÈM THEO BẢN ÁN DÂN SỰ PHÚC THẨM SỐ 392/2024/DS-PT
NGÀY 01/8/2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số 392/2024/DS-PT ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 392/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
