Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 3913/2024/DS-ST

Ngày: 22-8-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Cửu Long
  2. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Bích Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1342/2022/TLST-DS ngày 30/12/2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 6378/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng N3.

Địa chỉ trụ sở: B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng H (Giấy ủy quyền số 1121/NHN。-ĐSG ngày 3/7/2023) (có mặt).

Địa chỉ liên hệ: Số I, đường Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Trung H1 sinh năm 1997 và bà Trần Thị Kim N, sinh năm 1994; (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Cùng địa chỉ thường trú 1: Ấp An Quới, xã An Thạnh Trung, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Quốc H2 sinh năm 1982

Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 15 tháng 11 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Hoàng H - người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 17/01/2020, Ngân hàng N3 – chi nhánh Đ (gọi tắt là A) ký kết Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202000142 cho ông Huỳnh Trung H1 và bà Trần Thị Kim N vay theo hạn mức với số tiền là 1.600.000.000 đồng, cụ thể như sau:

Tổng mức cấp tín dụng : 1.600.000.000 đồng

Phương thức cho vay: Từng lần;

Mục đích sử dụng vốn vay: Hoàn thanh toán tiền mua nhà đất ở;

Thời hạn cho vay : 12 tháng.

Lãi suất cho vay : 10%/năm tại thời điểm nhận nợ.

Phương thức trả gốc: Trả cuối kỳ.

Phương thức trả lãi: 01 tháng/01 lần.

Tài sản đảm bảo tiền vay: Cho vay có tài sản đảm bảo 100%.

Để đảm bảo nghĩa vụ cho Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202000142 ngày 17/01/2020, được đảm bảo bằng 02 tài sản gồm:

  • Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có thửa đất số 3175, tờ bản đồ số 7, tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932671, số vào sổ cấp GCN: CH 11809 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020 thuộc chủ sở hữu ông Đặng Quốc H2, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 6280LCP202000161 ngày 17/01/2020, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 569 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2020; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 17/01/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T;
  • Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có thửa đất số 3174, tờ bản đồ số 7, tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932665, số vào sổ cấp GCN: CH 11804 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020 thuộc chủ sở hữu ông Đặng Quốc H2, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 6280LCP202000160 ngày 17/01/2020, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 570 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2020; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 17/01/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T;

Tuy nhiên, đến kỳ hạn trả gốc và lãi (tháng 11/2021) nhưng ông Huỳnh Trung H1 và bà Trần Thị Kim N đã không thực hiện theo đúng thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng. Vì vậy, toàn bộ khoản nợ vay của ông H1 và bà N đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 25/11/2021.

Vì vậy, Ngân hàng N3 khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ như sau:

  • Buộc ông Huỳnh Trung H1 và bà Trần Thị Kim N phải thanh toán khoản nợ vay tổng cộng là 1.946.010.918 đồng, trong đó nợ gốc: 1.600.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 277.400.548 đồng, nợ lãi quá hạn: 68.701.370 đồng tính đến ngày 31/10/2022 theo Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202000142 ngày 17/01/2020.
  • Tiền lãi tiếp tục được tính trên số dư nợ gốc kể từ ngày 01/11/2022 trở đi theo mức lãi suất được quy định của các Hợp đồng tín dụng cho đến khi bị đơn thanh toán hết nợ gốc.
  • Trong trường hợp ông Huỳnh Trung H1 và bà Trần Thị Kim N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì A đề nghị cho phát mãi tài sản thế chấp gồm:
    • Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có thửa đất số 3175, tờ bản đồ số 7, tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932671, số vào sổ cấp GCN: CH 11809 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020 thuộc chủ sở hữu ông Đặng Quốc H2, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 6280LCP202000161 ngày 17/01/2020, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 569 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2020; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 17/01/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T;
    • Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có thửa đất số 3174, tờ bản đồ số 7, tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932665, số vào sổ cấp GCN: CH 11804 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020 thuộc chủ sở hữu ông Đặng Quốc H2, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 6280LCP202000160 ngày 17/01/2020, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 570 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2020; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 17/01/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T;
  • Trường hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bị đơn vẫn phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ còn lại.
  • Bị đơn phải chịu các chi phí phát sinh trong suốt quá trình tố tụng là Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp.

Bị đơn ông Huỳnh Trung H1 có bản tự khai ngày 22/5/2024 trình bày:

Ông xác nhận ông và vợ ông là bà Trần Thị Kim N xác nhận có ký Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202000142 ngày 17/01/2020 với nội dung A cho bà vợ chồng ông vay với số tiền là 1.600.000.000 đồng. A đã giải ngân và vợ chồng tôi đã nhận đủ số tiền 1.600.000.000 đồng.

Đồng thời, để đảm bảo khoản vay của vợ chồng tôi thì ông Đặng Quốc H2 là chủ sở hữu tài sản đã thế chấp tài sản gồm:

  • Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có thửa đất số 3175, tờ bản đồ số 7, tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932671, số vào sổ cấp GCN: CH 11809 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020 thuộc chủ sở hữu ông Đặng Quốc H2, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 6280LCP202000161 ngày 17/01/2020, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 569 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2020; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 17/01/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T;
  • Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có thửa đất số 3174, tờ bản đồ số 7, tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932665, số vào sổ cấp GCN: CH 11804 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020 thuộc chủ sở hữu ông Đặng Quốc H2, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 6280LCP202000160 ngày 17/01/2020, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 570 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2020; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 17/01/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T;

Vợ chồng tôi vẫn nợ A số tiền gốc 1.600.000.000 đồng và tiễn lãi phát sinh.

Nay Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu vợ chồng tôi trả nợ gốc và lãi thì tôi đồng ý. Như do tình hình kinh tế khó khăn tôi không thể trả ngay được nên đề nghị Ngân hàng cho vợ chồng tôi thanh toán khoản nợ trên trong thời gian 06 tháng. Trường hợp đến hạn mà không thanh toán được thì vợ chồng tôi đồng ý để ngân hàng phát mãi tài sản trên.

Bị đơn - Bà Trần Thị Kim N mặc dù đã được tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt do có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, tuy nhiên bà N cũng không có ý kiến, bản tự khai đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Đặng Quốc H2 có bản tự khai ngày 28/3/2024 trình bày:

Ông xác nhận lời trình bày của nguyên đơn là đúng, ông là chủ tài sản đồng thời có bảo lãnh tài sản đối với tài sản như sau:

  • Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có thửa đất số 3175, tờ bản đồ số 7, tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932671, số vào sổ cấp GCN: CH 11809 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020
  • Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có thửa đất số 3174, tờ bản đồ số 7, tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932665, số vào sổ cấp GCN: CH 11804 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020.

Để bảo lãnh cho 2 tài sản nêu trên ông đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 6280LCP202000161 ngày 17/01/2020, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 569 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2020; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 17/01/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 6280LCP202000160 ngày 17/01/2020, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 570 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2020; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 17/01/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T.

Với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nếu ông Huỳnh Trung H1 và bà Trần Thị Kim N không trả được nợ thì ông đồng ý phát mãi 02 tài sản đảm bảo để thu hồi cho ngân hàng.

Tại phiên tòa:

Ông Lê Văn N1 là đại diện ủy quyền của Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên:

  • Buộc ông Huỳnh Trung H1 và bà Trần Thị Kim N phải thanh toán khoản nợ vay tổng cộng là 2.399.294.247 đồng, trong đó nợ gốc: 1.600.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 579.528.767 đồng, nợ lãi quá hạn: 219.765.480 đồng tính đến ngày 22/8/2024 theo Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202000142 ngày 17/01/2020.
  • Tiền lãi tiếp tục được tính trên số dư nợ gốc kể từ ngày 23/8/2024 trở đi theo mức lãi suất được quy định của các Hợp đồng tín dụng cho đến khi bị đơn thanh toán hết nợ gốc.
  • Trong trường hợp ông Huỳnh Trung H1 và bà Trần Thị Kim N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì A đề nghị cho phát mãi tài sản thế chấp là:
    • Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có thửa đất số 3175, tờ bản đồ số 7, tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932671, số vào sổ cấp GCN: CH 11809 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020 thuộc chủ sở hữu ông Đặng Quốc H2, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 6280LCP202000161 ngày 17/01/2020, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 569 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2020; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 17/01/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T;
    • Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có thửa đất số 3174, tờ bản đồ số 7, tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932665, số vào sổ cấp GCN: CH 11804 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020 thuộc chủ sở hữu ông Đặng Quốc H2, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 6280LCP202000160 ngày 17/01/2020, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 570 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2020; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 17/01/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T;

Trường hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bị đơn vẫn phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ còn lại.

Bị đơn phải chịu các chi phí phát sinh trong suốt quá trình tố tụng là Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp.

Bị đơn ông Huỳnh Trung H1 bà Trần Thị Kim N vắng mặt do có đơn đề nghị tòa án xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Đặng Quốc H2 vắng mặt do có đơn đề nghị tòa án xét xử vắng mặt.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, thời hạn xét xử đã quá so với thời gian quy định, kiến nghị rút kinh nghiệm.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp bảo đảm nợ vay, giữa hai bên chủ thể trong đó có một bên chủ thể Ngân hàng là tổ chức tín dụng có đăng ký kinh doanh và một bên là bị đơn không có đăng ký kinh doanh nên được xác định là hợp đồng dân sự về tín dụng là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202000142 ngày 17/01/2020 được các bên ký kết tại Quận B (nay là Thành phố T). Do đó, Ngân hàng N3 khởi kiện ông Huỳnh Trung H1 và bà Trần Thị Kim N tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nơi thực hiện hợp đồng là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 36 và điểm g Khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự:

Bị đơn ông Huỳnh Trung H1 bà Trần Thị Kim N và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Đặng Quốc H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt do có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về nợ gốc:

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ do nguyên đơn cung cấp gồm: Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202000142 ngày 17/01/2020; Ủy nhiệm chi ngày 21/01/2020; Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 21/01/2020, căn cứ vào lời trình bày của bị đơn và tài liệu chứng cứ của nguyên đơn thì xác định bị đơn còn nợ số tiền gốc tính đến ngày 22/8/2024 là 1.600.000.000 đồng. Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc ông H1 và bà N phải thanh toán số tiền nợ gốc: 1.600.000.000 đồng.

Về nợ lãi:

Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 qui định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Căn cứ theo Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 thì “Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất”. Các bên tự nguyện thỏa thuận về mức tiền lãi và được quy định trong hợp đồng. Như vậy, lãi suất được A sử dụng để tính lãi đối với khoản nợ của ông H1 và bà N là phù hợp với mức lãi suất quy định nên có căn cứ để chấp nhận. Buộc ông H1 và bà N phải trả lãi tính đến ngày 22/8/2024 cho Ngân hàng A nợ lãi trong hạn là 579.528.767 đồng, nợ lãi quá hạn: 219.765.480 đồng. Tiền lãi tiếp tục tính trên số dư nợ gốc tương ứng, kể từ ngày 23/8/2024 trở đi theo mức lãi suất quá hạn được quy định tại Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202000142 ngày 17/01/2020.

Tổng cộng ông H1 và bà N phải thanh toán cho Ngân hàng A số tiền: 2.399.294.247 đồng (trong đó nợ gốc: 1.600.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 579.528.767 đồng, nợ lãi quá hạn 219.765.480 đồng tính đến ngày 22/8/2024)

[5] Xét Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp :

Xét tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp gồm:

  • Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 6280LCP202000161 ngày 17/01/2020, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 569 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2020; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 17/01/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 6280LCP202000160 ngày 17/01/2020, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 570 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2020; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 17/01/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T được ký kết giữa bên cấp tín dung là ông Huỳnh

Trung H1 và bà Trần Thị Kim N; bên thế chấp ông Đặng Quốc H2 và bên nhận thế chấp là Ngân hàng A. Hợp đồng thế chấp trên đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm hợp lệ, đã tuân thủ đúng với các quy định tại Điều 296, Điều 298 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định 11/2022/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của chính phủ về giao dịch bảo đảm nên hợp đồng thế chấp trên có giá trị pháp lý.

Do đó yêu cầu của Ngân hàng A đề nghị Tòa án cho phát mãi tài sản thế chấp là:

  • Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có thửa đất số 3175, tờ bản đồ số 7, tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932671, số vào sổ cấp GCN: CH 11809 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020 thuộc chủ sở hữu của ông Đặng Quốc H2.
  • Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có thửa đất số 3174, tờ bản đồ số 7, tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932665, số vào sổ cấp GCN: CH 11804 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020 thuộc chủ sở hữu của ông Đặng Quốc H2 để thu hồi nợ cho Ngân hàng A trong trường hợp ông Huỳnh Trung H1 và bà Trần Thị Kim N không trả được nợ là có cơ sở, phù hợp với nội dung thỏa thuận của các hợp đồng thế chấp nêu trên mà các bên đã ký kết và phù hợp với qui định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Sau khi phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng, nếu vẫn còn chưa thanh toán hết gốc và lãi thì bị đơn phải có trách nhiệm tiếp tục trả nợ cho đến khi tất toán xong nợ.

Trường hợp ông H1 và bà N trả đủ nợ cho A theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết thì A có nghĩa vụ trả cho ông Đặng Quốc H2 toàn bộ bản chính giấy tờ thế chấp gồm: Bản chính Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932671, số vào sổ cấp GCN: CH 11809 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020 và Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932665, số vào sổ cấp GCN: CH 11804 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020 thuộc chủ sở hữu của ông Đặng Quốc H2.

[6] Xét yêu cầu của A buộc bị đơn phải chịu các chi phí phát sinh trong suốt quá trình tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Xét: Phiếu thu số 102 ngày 19/4/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức với nội dung “tạm ứng chi phí tố tụng” mà nguyên đơn đã nộp tạm ứng.

Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Căn cứ Khoản 1 Điều 157 và Khoản 1 Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn – Huỳnh Trung H1 và Trần

Thị Kim N phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 20.000.000 đồng.

[7] Về án phí:

Căn cứ Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 bị đơn phải chịu án phí trên yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận

[8] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức về giải quyết nội dung vụ án là phù hợp quy định của pháp luật. Riêng về thời hạn giải quyết vụ án bị kéo dài do trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử ghi nhận và rút kinh nghiệm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm g Khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ các Điều 293, 296, 298, 299, 323, 463 và 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng 2010;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định 11/2022/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của chính phủ về giao dịch bảo đảm;

- Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự 2008 và sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

1.1 Buộc ông Huỳnh Trung H1 và bà Trần Thị Kim N có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng N3 toàn bộ số nợ tính đến ngày 22/8/2024 phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202000142 ngày 17/01/2020 là: 2.399.294.247 (Hai tỷ, ba trăm chín mươi chín triệu, hai trăm chín mươi bốn nghìn, hai trăm bốn mươi bảy) đồng, trong đó:

Nợ gốc: 1.600.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng)

Nợ lãi trong hạn: 579.528.767 (Năm trăm bảy mươi chín triệu, năm trăm hai mươi tám nghìn, bảy trăm sáu mươi bảy) đồng

Nợ lãi quá hạn: 219.765.480 (Hai trăm mười chín triệu, bảy trăm sáu mươi lăm nghìn, bốn trăm tám mươi) đồng.

Tiền lãi tiếp tục được tính trên số dư nợ gốc kể từ ngày 23/8/2024 trở đi theo mức lãi suất được quy định Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202000142 ngày 17/01/2020 cho đến khi ông Huỳnh Trung H1 và bà Trần Thị Kim N thanh toán hết nợ gốc.

Thời hạn: thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

1.2. Trường hợp ông Huỳnh Trung H1 và bà Trần Thị Kim N không thanh toán nợ hoặc thanh toán không đủ số nợ trên thì nguyên đơn - Ngân hàng N3 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật kể cả việc kê biên, phát mãi các tài sản thế chấp gồm:

  • Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có thửa đất số 3175, tờ bản đồ số 7, tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932671, số vào sổ cấp GCN: CH 11809 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020 thuộc chủ sở hữu ông Đặng Quốc H2, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 6280LCP202000161 ngày 17/01/2020, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 569 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2020; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 17/01/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T;
  • Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có thửa đất số 3174, tờ bản đồ số 7, tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932665, số vào sổ cấp GCN: CH 11804 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020 thuộc chủ sở hữu ông Đặng Quốc H2, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 6280LCP202000160 ngày 17/01/2020, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 570 quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2020; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 17/01/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T;

Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Huỳnh Trung H1 và bà Trần Thị Kim N phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp ông Huỳnh Trung H1 và bà Trần Thị Kim N trả đủ nợ cho A theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết thì A có nghĩa vụ trả cho ông H1 và bà N2 bộ bản chính giấy tờ thế chấp gồm: Bản chính Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932671, số vào sổ cấp GCN: CH 11809 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020 và Giấy chứng nhậnQuyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 932665, số vào sổ cấp GCN: CH 11804 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 20/12/2018, cập nhật thay đổi ngày 30/7/2019 và ngày 13/01/2020 thuộc chủ sở hữu của ông Đặng Quốc H2.

1.3. Buộc ông Huỳnh Trung H1 và bà Trần Thị Kim N phải chịu chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ là 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Ông Huỳnh Trung H1

và bà Trần Thị Kim N có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N3 số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đã nộp 20.000.000 đồng.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

  • Ông Huỳnh Trung H1 và bà Trần Thị Kim N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 79.985.885 (Bảy mươi chín triệu, chín trăm tám mươi lăm nghìn, tám trăm tám mươi lăm) đồng.
  • Hoàn trả cho Ngân hàng N3 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 35.191.529 (ba mươi lăm triệu một trăm chín mươi mốt ngàn năm trăm hai mươi chín) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí số AA/2022/0007505 ngày 26/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • VKSND TP.Thủ Đức;
  • Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • Các đương sự;
  • Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Võ Thu Phương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN –

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thu Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3913/2024/DS-ST ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 3913/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger