|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 391/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/9/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoàn
Ông Phạm Công Định
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 415/2024/HNGĐ-TLST ngày 06/8/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 464/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 309/2024/QĐ-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 08/02/1987.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Hải Dương.
Hiện ở : Nhật Bản.
- Bị đơn : Anh Bùi Ngọc N, sinh ngày 30/01/1983.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Bùi Xá, xã Nhân Quyền, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Hiện ở: Đài Loan.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Ngọc T1, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương.
( Chị T, anh N, ông T1 đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Ngọc N tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương ngày 09/11/2009. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc 1 thời gian. Đến năm 2016 anh N sang Đài Loan lao động, thời gian đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc, nhưng sau đó do bất đồng quan điểm nên vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Năm 2020 chị đã về nhà mẹ đẻ ở, rồi làm thủ tục đi nước ngoài. Vợ chồng không còn quan tâm đến nhau và đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Ngày 09/7/2024 chị T về Việt Nam và có trao đổi nội dung ly hôn với anh N, quan điểm của anh N xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn với chị T. Tuy nhiên do điều kiện công việc anh N không về được Việt Nam nên chị T làm đơn ly hôn đơn phương. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N.
Về quan hệ con chung: Chị và anh Bùi Ngọc N có hai con chung là Bùi Thị L, sinh ngày 04/9/2010 và Bùi Thị U, sinh ngày 30/5/2014. Từ nhỏ hai cháu ở với ông bà nội, trong thời gian chị và anh N đi nước ngoài, các cháu đều được ông bà nội chăm sóc. Ly hôn chị và anh N thỏa thuận, chị nuôi cháu Bùi Thị U còn anh N nuôi cháu Bùi Thị L. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Trong thời gian chị ở nước ngoài, chị ủy quyền cho ông Bùi Ngọc T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu đến khi nào chị về Việt Nam chị sẽ đón con sau. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh N không có, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị tự nguyện chịu cả án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
- Anh Bùi Ngọc N hiện nay đang lao động tại Đài Loan, do chị T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh N, nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh N thông qua gia đình. Ông Bùi Ngọc T1 là bố đẻ anh N xác định, anh N đi Đài Loan lao động từ năm 2015, từ khi đi anh N có về Việt Nam nhiều lần. Vợ chồng anh N, chị T sống không hạnh phúc, anh chị đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Địa chỉ của anh N ở nước ngoài ông không biết, nhưng anh N vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Ông T1 đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh N biết. Thông qua buổi làm việc của Tòa án với gia đình, anh N đã gọi điện thoại trực tiếp và trình bày quan điểm. Cụ thể anh xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nay chị T có đơn ly hôn anh cũng đồng ý. Về con chung anh và chị T thống nhất chị T nuôi cháu U, anh nuôi cháu L. Về tài sản chung, nợ chung không có, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Do điều kiện công việc anh chưa thể về Việt Nam, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho bố đẻ là ông Bùi Ngọc T1 thay anh chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L, đồng thời ủy quyền cho ông T1 thay anh nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Ngọc T1 trình bày: Ông là bố đẻ của anh N, trong thời gian anh N, chị T ở nước ngoài, vợ chồng ông là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu U và cháu L. Ông đồng ý nhận ủy quyền của anh N, chị T chăm sóc cháu U, cháu L trong thời gian anh N, chị T không có mặt ở Việt Nam.
- Cháu Bùi Thị U có nguyện vọng được ở với mẹ, cháu Bùi Thị L có nguyện vọng được ở với bố khi bố mẹ ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị T được ly hôn anh N. Về con chung: Giao con chung Bùi Thị L, sinh ngày 04/9/2010 cho anh N chăm sóc, nuôi dưỡng, giao con chung Bùi Thị U, sinh ngày 30/5/2014 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh N, chị T không ở Việt Nam, tạm giao cháu U, cháu L cho ông Bùi Ngọc T1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về án phí: Chị T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có địa chỉ thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Hải Dương. Bị đơn anh Bùi Ngọc N có địa chỉ tại thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương. Hiện nay chị T đang lao động ở Nhật Bản, anh N đang lao động tại Đài Loan. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Quá trình giải quyết vụ án, chị T không cung cấp được địa chỉ của anh N tại Đài Loan. Theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh N cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình anh N được biết, anh N thường xuyên liên lạc với bố đẻ là ông Bùi Ngọc T1. Ông T1 đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh N biết. Thông qua gia đình anh N cũng đã có quan điểm về việc ly hôn và nuôi con, đồng thời ủy quyền cho ông Bùi Ngọc T1 chăm sóc nuôi dưỡng cháu U, cháu L trong thời gian anh N, chị T không ở Việt Nam. Do vậy Tòa án xác định ông T1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Chị T, anh N, ông T1 đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Ngọc N kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương ngày 09/11/2009. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh N và chị T đều đi nước ngoài lao động, vợ chồng sống xa nhau dẫn đến bất đồng quan điểm, hai bên không tìm được tiếng nói chung. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh N. Quá trình giải quyết vụ án, anh N cũng có quan điểm không còn tình cảm với chị T và đồng ý ly hôn. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị T và anh N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.
- Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Ngọc N có hai con chung là Bùi Thị L, sinh ngày 04/9/2010 và Bùi Thị U, sinh ngày 30/5/2014. Ly hôn chị T, anh N thỏa thuận chị T nuôi cháu U, anh N nuôi cháu L. Xét thấy anh N, chị T đang lao động ở nước ngoài, điều kiện nuôi con của anh chị là như nhau, việc thỏa thuận của anh N, chị T là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với nguyện vọng của của cháu U và cháu L. Do đó cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao cháu U cho chị T nuôi dưỡng, giao cháu L cho anh N nuôi dưỡng là phù hợp. Trong thời gian anh N, chị T không ở Việt Nam, tạm giao cháu U, cháu L cho ông Bùi Ngọc T1 chăm sóc nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Ngọc N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3].Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Bùi Ngọc N.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung Bùi Thị L, sinh ngày 04/9/2010 cho anh Bùi Ngọc N chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao con chung Bùi Thị U, sinh ngày 30/5/2014 cho chị Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con tròn 18 tuổi. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.
Trong thời gian chị T, anh N không ở Việt Nam, tạm giao cháu U, cháu L cho ông Bùi Ngọc T1 chăm sóc, nuôi dưỡng.
Chị Nguyễn Thị T, anh Bùi Ngọc N được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005063 ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T, anh Bùi Ngọc N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Ông Bùi Ngọc T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 391/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 391/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
