TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 391/2024/HS-PT Ngày: 27 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Minh Thịnh
Ông Cao Văn Tám
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ba Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 990/2023/TLPT- HS ngày 05 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thu T (Lượm) do có kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2023/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2630/2024/QĐXXPT-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, đối với:
* Bị cáo: Nguyễn Thu T (Lượm), sinh năm 1977 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; HKTT: 6 C, phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh, tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1952; chồng Phạm Duy Thanh P, sinh năm 1980; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (vắng mặt).
* Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Lê Thị Quỳnh A - Đoàn luật sư Thành phố H, (có mặt).
* Bị hại:
- Bà Phạm Thị L, sinh năm 1965; Nơi cư trú: H B, phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1969; cùng trú tại: 5 khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Ông Huỳnh Hữu Bảo Â, sinh năm 1979; Nơi cư trú: A B, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1943 và ông Phạm Quang H1; Nơi cư trú: 1 B, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
* Người làm chứng:
- Ông Phạm Duy Phong V, sinh năm 1983 và bà Trang Thị Ngọc D, sinh năm 1982; Nơi cư trú: 6 C, phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
- Ông Trần Quang H2, sinh năm 1973; Nơi cư trú: 1 L, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1983; Nơi cư trú: thôn F xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
- Ông Ngô Cát T3, sinh năm 1984; Nơi cư trú: khu phố Ô, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
- Ông Đoàn Huy Q, sinh năm 1983; Nơi cư trú: G P, phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
* Người kháng cáo: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức của Nguyễn Thu T:
Vào khoảng năm 2015, bà Nguyễn Thị H nhờ Nguyễn Thu T làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở đối với thửa đất có diện tích 1.080m², tờ bản đồ số 10, thửa 33, thuộc phường E, thành phố V theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt là GCNQSDĐ) số P815439 do con trai của bà H là Phạm Quang H1 đứng tên với giá tiền là 200.000.000 đồng. Bà H đưa trước cho T số tiền 115.000.000 đồng và GCNQSDĐ số P815439. Sau đó, T tìm hiểu và biết hiện tại Nhà nước chưa cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đối với thửa đất mà bà H nhờ T làm giúp. Tuy nhiên, T không trả lại tiền và GCNQSDĐ cho bà H mà vẫn giữ lại và sử dụng hết số tiền bà H đưa cho T và đi đến Thành phố Hồ Chí Minh làm dịch vụ môi giới mua bán bất động sản. Trong một lần ngồi ở quán cà phê vỉa hè gần bến tàu cánh ngầm ở thành phố Hồ Chí Minh, T nói chuyện qua điện thoại với các chủ nợ về việc môi giới đất đai chưa thành công nên chưa có tiền trả nợ cho họ. Khi T nói chuyện điện thoại xong, có hai người đàn ông ngồi uống nước gần đó qua bàn T ngồi và đặt vấn đề làm giả bộ con dấu của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V cho T với giá 30.000.000 đồng để T sử dụng làm giả thông tin chuyển nhượng trên các GCNQSDĐ rồi đem đi thế chấp vay tiền. Do đang cần tiền trả nợ nên T đồng ý và phô tô GCNQSDĐ có hình con dấu tròn của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, dấu Giám Đốc, dấu tên Trần Quang H2 (là Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố V) rồi đưa cho hai người nói trên. Khoảng 20 ngày sau, T gặp hai người đàn ông nói trên để giao tiền và nhận bộ con dấu giả như đã thỏa thuận (trên dấu tròn ghi: “PHÒNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG T5; VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT”). Sau khi có được bộ con dấu giả, T về Vũng Tàu và thuê một người bán vé số dạo (chưa rõ nhân thân, lai lịch) ghi nội dung chỉnh lý trên trang thứ tư của GCNQSDĐ số P815439 là “15/5/2014 - Đã chuyển nhượng lại cho ông Phạm Duy P V, sinh năm: 1983, số CMND: [...] cấp ngày 02-07-2008 tại CA Tỉnh. BR-VT. Địa chỉ: 6, Cô G, P.4, TP .. Theo hồ sơ số: 26512.00.1132". T trả thù lao cho người này 2.000.000 đồng. Sau đó T tự ký giả chữ ký của ông Trần Quang H2 và sử dụng con dấu tròn đóng trùm lên gần hết chữ ký này, đóng dấu Giám đốc bên trên chữ ký giả và đóng dấu tên Trần Quang H2 bên dưới chữ ký giả rồi T vứt bộ dấu giả này xuống biển Vũng Tàu để phi tang.
Theo Kết luận giám định số 296/PC09-Đ3 ngày 24/5/2019 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:
- Chữ ký mang tên Trần Quang H2 mô tả trên tài liệu cần giám định ký hiệu A (là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 815439) so với chữ ký mang tên Trần Quang H2 trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 không phải do cùng một người ký ra.
- Hình dấu mô tả trên tài liệu cần giám định ký hiệu A (là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 815439) so với hình dấu trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
2. Về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Thu T:
Sau khi làm giả nội dung chỉnh lý tại trang thứ tư của GCNQSDĐ số P815439, T sử dụng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản với hình thức thế chấp quyền sử dụng đất thể hiện trên GCNQSDĐ số P815439 như sau:
Khoảng tháng 11/2016, thông qua bà Lê Thị T4; T quen biết và vay của bà Phạm Thị L số tiền 200.000.000 đồng với lãi suất 3%/tháng, thế chấp lại GCNQSDĐ số P815439 để làm tin. Để ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền bà L; T nói dối với vợ chồng ông Phạm Duy Phong V (là em chồng của T) và bà Trang Thị Ngọc D là T có mua một thửa đất nhưng không đứng tên được nên nhờ vợ chồng V đứng tên giúp. T nhờ vợ chồng V ký hợp đồng thế chấp giúp T để T vay tiền của bà L. Vợ chồng ông Vũ t lời T nên ký tên vào hợp đồng thế chấp vay tiền của bà L. T đưa GCNQSDĐ số P815439 đã được làm giả trang thứ 4 và giấy tờ thế chấp vay tiền cho bà L giữ. T sử dụng số tiền vay của bà L để trả công môi giới cho bà T4 3.000.000 đồng, số tiền còn lại là 197.000.000 đồng T sử dụng hết.
Sau khi sử dụng hết số tiền đã vay của bà L, T tiếp tục tìm người thế chấp GCNQSDĐ số P815439 để vay số tiền lớn hơn. Vào cuối tháng 11/2016, thông qua bà Q1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch), T quen biết và thỏa thuận thế chấp GCNQSDĐ số P815439 cho ông Nguyễn Văn T2 để vay số tiền 600.000.000 đồng với lãi suất 4%/tháng, thời hạn vay 06 tháng. Để thực hiện thủ tục thế chấp quyền sử dụng đất vay tiền của ông T2, T ứng của ông T2 206.000.000 đồng để trả gốc và lãi cho bà L rồi lấy lại GCNQSDĐ số P815439. Sau đó, T nhờ vợ chồng ông V và bà D ký hợp đồng ủy quyền cho T đối với thửa đất theo GCNQSD đất số P815439. Sau khi có hợp đồng ủy quyền, T và ông T2 đến Văn phòng C ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất nói trên cho ông T2 và viết giấy tay ghi nhận T thế chấp vay tiền, sau đó T đưa toàn bộ giấy tờ cho ông T2 giữ. T trả công môi giới cho bà Q1 số tiền 60.000.000 đồng, số tiền còn lại là 334.000.000 đồng T sử dụng hết. Sau khi hoàn tất hợp đồng chuyển nhượng, ông T2 nhờ Q1 nộp hồ sơ chuyển nhượng tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V để chỉnh lý biến động trên trang thứ 4.
Ngày 30/11/2016, khi được giao giải quyết hồ sơ đề nghị chuyển nhượng thửa đất nói trên từ vợ chồng ông Phạm Duy Phong V và bà Trang Thị Ngọc D sang cho ông Nguyễn Văn T2; ông Nguyễn Đăng H3 là nhân viên Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V không thực hiện đúng nhiệm vụ, trách nhiệm của mình; không phát hiện chữ ký của ông Trần Quang H2 ở phần nội dung chuyển nhượng ngày 15/5/2014 tại trang thứ 4 bị làm giả và ký trước ngày ông H2 được bổ nhiệm Giám đốc; không trực tiếp đến khu đất để xác minh kiểm tra theo quy trình; tự ý lập biên bản xác minh ngay tại Văn phòng, sau đó nhờ người ký giả chữ ký của ông Nguyễn Văn T2 rồi chuyển toàn bộ hồ sơ cho ông Ngô Cát T3 là nhân viên Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V, để thực hiện việc chỉnh lý. Ông T3 kiểm tra trên hệ thống dữ liệu máy vi tính và sổ địa chính của Chi nhánh Văn phòng Đ không thấy có thông tin cập nhật việc chỉnh lý ngày 15/5/2014 từ ông Phạm Quang H1 sang ông Phạm Duy Phong V như nội dung chỉnh lý đã được ghi ở trang thứ 4 trước đó. Mặc dù vậy, ông T3 vẫn cho rằng biến động chuyển nhượng đất từ ông H1 sang ông V là thật nhưng chưa kịp cập nhật vào hệ thống và sổ địa chính. Ông T3 không báo cáo sự việc cho Lãnh đạo Văn phòng Đ và ông H3 biết để có hướng xử lý theo quy định; không tiến hành kiểm tra hồ sơ gốc việc chuyển nhượng đất để xác định có hay không có việc chuyển nhượng từ ông H1 sang ông V mà vẫn thực hiện việc chỉnh lý chuyển nhượng đất từ ông V sang ông T2. Sau đó, ông T3 trình hồ sơ để ông Trần Quang H2 là Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ ký tên, đóng dấu. Sau khi tiếp nhận hồ sơ từ ông T3, do hồ sơ phải duyệt ký trong ngày nhiều và chủ quan không kiểm tra kỹ hồ sơ, thiếu quan sát nên ông H2 không phát hiện được chữ ký của ông xác nhận nội dung chuyển nhượng thửa đất trên từ ông Phạm Quang H1 sang ông Phạm Duy Phong V vào ngày 15/5/2014 ở trang 4 của GCNQSD đất số P815439 bị làm giả, ký trước ngày ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Văn phòng Đ. Do đó, ông H2 vẫn ký xác nhận việc chuyển nhượng, chỉnh lý biến động đất từ ông Phạm Duy Phong V sang ông Nguyễn Văn T2.
Sau khi sử dụng hết số tiền vay của ông T2; T tiếp tục tìm người thế chấp quyền sử dụng đất thể hiện trên GCNQSDĐ số P815439 để vay số tiền nhiều hơn. Khoảng tháng 12/2016, thông qua ông Diệp Trọng Trung K và bà Diệp Hồng L1; T quen biết anh Huỳnh Hữu Bảo Â. T đặt vấn đề thế chấp quyền sử dụng đất trên GCNQSDĐ số P815439 để vay của ông  số tiền 3.000.000.000 đồng, lãi suất từ 3%/tháng. Sau khi xem giấy pho to GCNQSDĐ số P815439, ông  được T dẫn đến xem một thửa đất trống tại phường E, thành phố V thì ông  đồng ý cho T vay tiền. Ông  thỏa thuận đưa trước cho T số tiền 1.600.000.000 đồng, số tiền 1.400.000.000 đồng thì ông  sẽ đưa sau khi hoàn tất việc sang tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Â. T sử dụng số tiền này trả cho ông T2 600.000.000 đồng tiền gốc và 144.000.000 đồng tiền lãi để lấy GCNQSDĐ nói trên đưa cho ông Â. T trả tiền công môi giới cho ông K và bà L1 mỗi người khoảng 10.000.000 đồng. Số còn lại là 836.000.000 đồng T sử dụng hết. T nhờ ông T2 ký chuyển nhượng cho ông Â, sau đó ông  nộp hồ sơ chuyển nhượng tại Chi nhánh Văn phòng Đ để sang tên. Do chờ đợi hồ sơ sang tên lâu nên ông  tự tìm hiểu và biết được nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên là giả. Ông  gọi điện thoại cho T và T thừa nhận làm giả nội dung chuyển nhượng. T đề nghị ông A đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V rút lại hồ sơ chuyển nhượng đã nộp trước đó, T hứa sẽ trả lại tiền cho ông Â. Sau khi rút được hồ sơ chuyển nhượng, ngày 23/01/2017, ông  cùng T, vợ chồng ông T2 đến Văn phòng C1, thành phố V để hủy hợp đồng chuyển nhượng từ vợ chồng ông T2 cho ông Â.
Sau khi ông  đến rút hồ sơ chuyển nhượng, do nghi vấn nội dung chuyển nhượng trên GCNQSDĐ số P815439 là giả mạo nên nhân viên Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V đã báo cáo ông Trần Quang H2 - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng biết. Sau khi kiểm tra trong hồ sơ lưu tại văn phòng và phát hiện toàn bộ nội dung chuyển nhượng tại trang thứ 4 của GCNQSDĐ số P815439 là giả mạo, ông H2 yêu cầu nhân viên đến Văn phòng C1 và Văn phòng C (là nơi đã làm thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng trước đây) để hủy các hợp đồng chuyển nhượng trái pháp luật. Khi đến Văn phòng C1 phát hiện hồ sơ hủy hợp đồng chuyển nhượng do T đề nghị đang được giải quyết, nhân viên Chi nhánh Văn phòng Đ đã thu hồi GCNQSDĐ số P815439 nói trên, xử lý hủy toàn bộ nội dung chuyển nhượng tại trang thứ 4 và thông báo cho ông Phạm Quang H1 đến nhận lại GCNQSDĐ. Bà H (đại diện cho ông H1) không nhận lại GCNQSDĐ số P815439 và đề nghị Văn phòng đăng ký đất đai cấp đổi GCNQSDĐ đối với thửa đất của gia đình bà và làm đơn tố cáo T gửi đến Công an thành phố V. Ngoài ra, bà H còn tố giác T vay mượn bà H nhiều lần với tổng số tiền là 4.775.000.000 đồng. Xét thấy việc vay mượn này là sự thỏa thuận tự nguyện giữa hai bên, chỉ là giao dịch dân sự nên không có cơ sở xử lý hình sự T trong việc vay mượn này. Quá trình điều tra vụ án, Nguyễn Thu T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
- Ngày 10/12/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm tại Bản án số 78/2020/HSST xử phạt Nguyễn Thu T xử phạt 03 năm tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự và 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
- Ngày 02/3/2022, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo Bản án số 108/2022/HS-PT quyết định tuyên hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 78/2020/HSST ngày 10/12/2020 để giao cho cấp tỉnh điều tra lại.
Kết quả điều tra lại:
Đối với hành vi của của ông Trần Quang H2, Ngô Cát T3, Nguyễn Đăng H3 khi thực hiện chức trách nhiệm vụ của mình đã có sai sót, thiếu kiểm tra trong việc giải quyết hồ sơ chuyển nhượng đất mà T làm giả trang thứ 4, tuy nhiên sau khi sự việc xảy ra, các ông H2, T3, H3 đã tích cực khắc phục hậu quả làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới cho ông Ngô Quang H4.
Đối với công chứng viên Nguyễn Huy Q2 thực hiện đúng quy trình, thủ tục công chứng số 1469, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD. Từ tháng 6/2015 trở về trước trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chưa triển khai dữ liệu công chứng nên ông Q2 không xác định được việc đăng ký biến động ngày 15/5/2014 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P815439 được làm giả. Do đó không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với ông Q2 về hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Đối với ông Phạm Duy Phong V và bà Trang Thị Ngọc D không biết nội dung chuyển nhượng trên GCNQSDĐ số P815439 là do T làm giả và không được hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội của T. Do đó chưa đủ căn cứ xác định hành vi của V và D đồng phạm với Nguyễn Thu T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Đối với số tiền 800.000.000 đồng mà T thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P815439 đã được làm giả trang thứ 4 để vay tiền của bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Văn T2. Mặc dù T đã chủ động trả lại toàn bộ số tiền trên cho bà L và ông T2 trước khi Cơ quan CSĐT Công an tỉnh thụ lý điều tra và làm rõ sự việc nhưng đây chỉ là tình tiết khắc phục hậu quả đối với hành vi trên. Do vậy, hành vi của T sử dụng thủ đoạn gian dối để thế chấp, vay tiền của bà L và ông T2 đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Vật chứng hiện đang tạm giữ: Cơ quan CSĐT đã thu giữ GCNQSDĐ số P815439 thể hiện T tự chỉnh lý làm giả tại trang thứ 4 để đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
* Về trách nhiệm dân sự:
Ông Huỳnh Hữu Bảo  yêu cầu Nguyễn Thu T trả lại 1.600.000.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị H yêu cầu Nguyễn Thu T trả lại số tiền 115.000.000 đồng đã đưa cho T để làm thủ tục chuyển đổi mục đích quyền sử dụng đất và số tiền 4.775.000.000 đồng mà bà H đưa cho T vay.
* Tại Cáo trạng số 27/CT-VKS-P2 ngày 29/3/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Thu T về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2023/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của
Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thu T (L2) phạm các tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thu T 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thu T 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự về tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Nguyễn Thu T phải chấp hành hình phạt chung là 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm bồi thường, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 26/9/2023, bà Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm. Lý do, tòa sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng của bà là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không đúng mà phải là bị hại. Việc cấp sơ thẩm không truy tố, xét xử ông Trần Quang H2 (nguyên giám đốc VPĐKĐĐ Tp.Vũng Tàu), Nguyễn Đăng H3, Ngô Cát T3 ( cán bộ chi nhánh V1) và Văn phòng C2 với vai trò đồng phạm là bỏ lọt tội phạm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người kháng cáo bà H vắng mặt;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về xử lý vụ án: Tòa án sơ thẩm xác định bà H với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng – vì giao dịch giữa bị cáo T và bà là quan hệ giao dịch dân sự khác; Về phần nội dung bỏ lọt tội phạm, thấy rằng: Có căn cứ xác định hành vi duyệt ký hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất thiếu kiểm tra của Nguyễn Đăng H3, Trần Quang H2, Ngô Cát T3 đã tạo điều kiện cho bị cáo chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Mặc dù, các đối tượng H2, H3, T3 không hưởng lợi nhưng với hành vi trên có dấu hiệu của tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”; Đối với ông Phạm Duy Phong V, bà Trang Thị Ngọc D đứng tên giúp và ký thế chấp cho bị cáo T vay nợ là có dấu hiệu đồng phạm giúp sức. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà H về xác định tư cách tham gia tố tụng, chấp nhận một phần kháng cáo của bà H, hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại, do có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với Nguyễn Đăng H3, Trần Quang H2, Ngô Cát T3, Phạm Duy Phong V, bà Trang Thị Ngọc D.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà H, giữ nguyên việc xác định tư cách tham gia tố tụng của bà; Riêng vấn đề bỏ lọt tội phạm, Luật sư đồng quan điểm với Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng (trong đó có bà Nguyễn Thị H kháng cáo) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Tòa xét xử vắng mặt theo quy định.
[2]. Về nội dung kháng cáo:
[2.1]. Xác định tư cách tham gia tố tụng, thấy rằng:
Quá trình điều tra và lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thu T, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Bà Nguyễn Thị H nhờ bị cáo T giúp làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất (thửa đất số 10, tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại phường E thành phố V) với giá thuê là 115 triệu đồng, nhưng bị cáo làm không thành công, rồi không trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H mà giữ lại và bỏ đi nơi khác. Như vậy, đây chỉ là giao dịch dân sự về dịch vụ thực hiện 01 công việc có thù lao; bị cáo không có ý thức lừa đảo bà, mà chính bà H là người nhờ bị cáo giúp trước.
Còn việc bị cáo thuê người làm giả con dấu của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố V, ghi, ký và đóng dấu xác nhận nội dung sang tên ông Phạm Duy Phong V (em chồng bị cáo) để thực hiện hành vi vay tiền rồi chiếm đoạt của bà Phạm Thị L 200.000.000 đồng; của ông Nguyễn Văn T2 600.000.000 đồng và của ông Huỳnh Hữu Bảo  3.000.000.000 đồng (đã giao 1.600.000.000 đồng) là có hành vi gian dối, chiếm đoạt tài sản.
Tòa án sơ thẩm xác định bà L, ông T2, ông  là bị hại trong vụ án là chính xác. Đồng thời, xác định bà H tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, lý do việc bà H thuê bị cáo làm dịch vụ và vay tiền là quan hệ khác, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Hơn nữa, hiện tại bà H đã nhận lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình. Do đó, Tòa án sơ thẩm nhận định tách ra đối với khoản tiền này nếu các bên không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện vụ án dân sự khác là phù hợp.
[2.2]. Đối với nội dung kháng cáo có liên quan đến dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.
Do bà H chỉ liên quan đến số tiền thuê và vay nợ của bị cáo và như nhận định ở [2.1] theo phạm vi kháng cáo thì bà không có quyền kháng cáo nội dung này.
Tuy nhiên, để đảm bảo việc xét xử được toàn diện, triệt để nhằm tránh oan sai và bỏ lọt tội phạm thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, tại bản án hình sự phúc thẩm số 108/2022/HS-PT quyết định tuyên hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 78/2020/HSST ngày 10/12/2020 để giao cho cấp sơ thẩm điều tra, truy tố, xét xử lại.
Quá trình điều tra lại đã xác định hành vi của của ông Trần Quang H2, Ngô Cát T3, Nguyễn Đăng H3 khi thực hiện chức trách nhiệm vụ của mình có sai sót, thiếu kiểm tra trong việc giải quyết hồ sơ chuyển nhượng đất. Tuy nhiên sau khi sự việc xảy ra, các ông H2, T3, H3 đã tích cực khắc phục hậu quả và không có hưởng lợi, nên cấp sơ thẩm không xem xét xử lý về trách nhiệm hình sự. Đối với các công chứng viên Nguyễn Huy Q2, ông Phạm Duy Phong V và bà Trang Thị Ngọc D khi thực hiện việc công chứng không biết là do bị cáo T làm giả, không được hưởng lợi nên cấp sơ thẩm nhận định chưa đủ căn cứ xác định có vai trò đồng phạm với bị cáo T. Như vậy, về giới hạn xét xử Tòa án sơ thẩm, phúc thẩm lần 1 cũng đã đề nghị làm rõ hành vi của các đối tượng trên nhưng Viện kiểm sát sơ thẩm không chấp nhận. Do đó, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị tiếp tục hủy án sơ thẩm với lý do bỏ lọt tội là không cần thiết. Hội đồng xét xử phúc thẩm kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của các đối tượng trên theo đề nghị của Viện kiểm sát. Nếu đủ căn cứ thì xử lý theo quy định pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm.
[3]. Từ những phân tích và nhận định trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H.
[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bà H phải chịu 200.000 đồng.
[5]. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan của bà Nguyễn Thị H. Giữ nguyên quyết định Bản án số 67/2023/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
1. Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Thu T (L2) phạm các tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Thu T 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Thu T 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự về tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Nguyễn Thu T phải chấp hành hình phạt chung cho 02 tội là 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí:
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng
3. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Văn Kết |
Bản án số 391/2024/HS-PT ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 391/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bác kháng cáo của bà Hèo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
