Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 391/2024/HNGĐ-ST

Ngày 19 - 9 - 2024

V/v: “Tranh chấp hôn nhân

và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Mão và ông Nguyễn Hồ Cảnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 332dân sự 162/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 328/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Nguyệt N, sinh năm 2000; địa chỉ: bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1995; địa chỉ: bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; hiện đang ở C liên bang Đ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27/6/2024 và bản tự khai đề ngày 17/7/2024, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nguyệt N trình bày:

Chị Nguyễn Thị Nguyệt N và anh Trần Văn T yêu nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 28/02/2020 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hai người chung sống hạnh phúc được 4 năm, nhưng thời gian trở lại đây vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn tiếng nói chung. Nguyên nhân do đầu năm 2024, anh T sang Đức sinh sống và làm ăn, do khoảng cách địa lý xa xôi, anh Đ sang đó sinh sống không biết bao giờ về nước, hai người dần không còn tin tưởng nhau, tình cảm vợ chồng không còn như trước, căng thẳng kéo dài, không thể hòa giải được. Nay chị N nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị N làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị và anh Trần Văn T được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Nguyễn Tiến A, sinh ngày 28/12/2020; cháu Trần Nguyễn Minh N1, sinh ngày 09/02/2023. Do hiện nay anh T đang làm việc và sinh sống tại Đức nên không có điều kiện nuôi dạy, chăm sóc các con. Bên cạnh đó, các con hiện nay đang ở với chị N. Nếu ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Nguyệt N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trần Văn T, do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên chị Nguyễn Thị Nguyệt N không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh T ở Đức. Theo chị N trình bày anh T vẫn thường xuyên liên lạc về với mẹ đẻ là bà Thái Thị T1; địa chỉ cư trú: bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An và bà T1 biết địa chỉ cụ thể của anh T ở Đức; đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã gửi văn bản cho bà Thái Thị T1 (là mẹ đẻ của anh Trần Văn T) thông báo về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án để bà T1 thông báo cho anh T và đề nghị anh T nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị N. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, Giấy triệu tập phiên tòa tại nơi cư trú của anh T trước khi đi nước ngoài. Tuy nhiên, anh T không có ý kiến gì và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị Nguyệt N và anh Trần Văn T được ly hôn. Về con chung: Giao cháu Trần Nguyễn Tiến A, sinh ngày 28/12/2020; cháu Trần Nguyễn Minh N1, sinh ngày 09/02/2023 cho chị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con: chị N không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Nguyệt N hiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T hiện cư trú ở nước ngoài; trước khi xuất cảnh, anh T có địa chỉ cư trú tại bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2] Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Văn T hiện đang ở Đức, không có địa chỉ cụ thể. Bà Thái Thị T1 (là mẹ đẻ của anh Trần Văn T) cam kết sẽ thông báo cho con trai về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật đồng thời yêu cầu bà T1 cung cấp địa chỉ cụ thể của anh T ở Cộng hòa liên bang Đ nhưng bà không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của anh T trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị N nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nguyệt N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Văn T vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.

[3] Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nguyệt N và anh Trần Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống chung hạnh phúc được một thời gian thì đã phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn, do đầu năm 2024, anh T sang Đức sinh sống và làm ăn, do khoảng cách địa lý xa xôi, anh Đ sang đó sinh sống không biết bao giờ về nước, hai người dần không còn tin tưởng nhau, tình cảm vợ chồng không còn như trước, căng thẳng kéo dài, không thể hòa giải được. Nay chị N có nguyện vọng được ly hôn với anh T. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh T không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị N được ly hôn với anh T là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Nguyễn Tiến A, sinh ngày 28/12/2020; cháu Trần Nguyễn Minh N1, sinh ngày 09/02/2023. Hiện tại, 02 con chung đang ở với chị N và chị N đề nghị Tòa án giao 02 con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sau ly hôn. Xét thấy, anh T hiện đang ở nước ngoài và chưa có ý kiến gì về việc nuôi con nên cần giao cháu Trần Nguyễn Tiến A, sinh ngày 28/12/2020; cháu Trần Nguyễn Minh N1, sinh ngày 09/02/2023 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, chị N không yêu cầu và anh T cũng chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Nguyệt N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nguyệt N phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40, khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nguyệt N.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nguyệt N được ly hôn với anh Trần Văn T.

- Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Trần Nguyễn Tiến A, sinh ngày 28/12/2020; cháu Trần Nguyễn Minh N1, sinh ngày 09/02/2023 cho chị Nguyễn Thị Nguyệt N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Tiến A và Minh N1 đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Nguyễn Thị Nguyệt N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn, anh Trần Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của các con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị Nguyễn Thị Nguyệt N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0013024 ngày 12 tháng 7 năm 2024.

3. Chị Nguyễn Thị Nguyệt N có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án; anh Trần Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Châu Bình, H. Quỳ Châu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 391/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 391/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình Nguyễn Thị Nguyệt N- Trần Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger