|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 391/2024/DS-ST Ngày: 15/7/2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Diễm
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Quản;
- Ông Lê Văn Phú.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Yến Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 571/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2023,về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 607/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số : 792/2024/QĐST-DS ngày 20/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S (Viết tắt: S1).
Trụ sở: 2 N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- - Bà Nguyễn Đức Thạch D – Là người đại diện theo pháp luật ;
- - Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S2): Ông Lã Ngọc M (Theo giấy ủy quyền số 2743/2023/UQ-TGĐ ngày 23/08/2023) – (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1981.
Địa chỉ: D Đường T, Khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 20/9/2023 và trong các bản tự khai, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S (viết tắt:S1), có ông Lã Ngọc M là đại diện theo ủy quyền trình bày:
* Khoản vay thẻ tín dụng:
Ngày 27/08/2019, ông Nguyễn Văn N có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông N, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng VS payWave Cre Platinum 436438 - 6693 với hạn mức sử dụng là 150.000.000 đồng.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, Ông N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.350.000.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.222.644.062 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 26/02/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ VS payWave Cre Platinum 436438 - 6693 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 15/7/2024, ông N còn nợ các khoản sau:
- Đối với khoản vay thẻ tín dụng:
- Dư nợ gốc: 168.021.296 đồng
- Lãi quá hạn : 249.209.736 đồng
- Tổng cộng: 417.231.032 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu, hai trăm ba mươi mốt nghìn, ba mươi hai đồng)
- Đối với khoản vay tín dụng tiêu dùng:
Ngày 16/09/2019, ông Nguyễn Văn N có ký với Ngân hàng TMCP S – CN P – PGD Quận 6 hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ với mục đích tiêu dùng cá nhân, chi tiết như sau:
- -Số HĐTD: 201909228549 ngày 16/09/2019
- -Số tiền vay: 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng)
- -Thời hạn vay: 36 tháng
- -Thời điểm trả hết nợ: 16/09/2022
- -Phương thức trả nợ: khi trả nợ vay (bao gồm nợ gốc, lãi vay), bên vay phải trả nợ vay cùng loại tiền với loại tiền đã nhận nợ tương ứng (VNĐ, ngoại tệ) đính kèm Hợp đồng này hoặc đính kèm theo từng giấy nhận nợ tương ứng.
Trong quá trình vay, từ ngày giải ngân đầu tiên đến nay, ông Nguyễn Văn N đã liên tục thanh toán trễ khoản vay. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông N vẫn không có thiện chí trả nợ. Vậy, ông N vi phạm nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến hết ngày 15/7/2024 ông Nguyễn Văn N còn nợ khoản vay tín chấp như sau:
| Diễn giải | Vốn | Lãi trong hạn | Lãi quá hạn |
| 201909228549 | 42.770.000 | 7.803.162 | 36.187.831 |
Tổng cộng: 86.760.993 (tám mươi sáu triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn, chín trăm chín mươi ba đồng).
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, yêu cầu ông N có trách nhiệm thanh toán ngay các khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng đã tạo điều kiện về mặt thời gian để ông N trả nợ, tuy nhiên khách hàng vẫn chưa thanh toán các khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại hợp đồng tín dụng đã ký. Nay, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Nguyễn Văn N phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 15/7/2024 là: 503.992.025 đồng (Năm trăm lẻ ba triệu, chín trăm chín mươi hai nghìn, hai mươi lăm đồng) trong đó:
- + Khoản vay thẻ tín dụng:
- Dư nợ gốc: 168.021.296 đồng
- Lãi quá hạn : 249.209.736 đồng
•Tổng cộng: 417.231.032 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu, hai trăm ba mươi mốt nghìn, ba mươi hai đồng)
- + Khoản vay tín dụng tiêu dùng
| Nợ gốc | : | 42.770.000 đồng |
| -Lãi trong hạn | : | 7.803.162 đồng |
| -Lãi quá hạn | : | 36.187.831 đồng |
| -Tổng cộng | : | 86.760.993 (tám mươi sáu triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn, chín trăm chín mươi ba đồng). |
- Ngoài ra ông Nguyễn Văn N còn phải chịu lãi phát sinh kể từ ngày 16/7/2024 đối với K vay tín dụng tiêu dùng và Khoản vay thẻ tín dụng cho đến khi trả dứt nợ theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng. khoản vay này chỉ mình ông N chịu, không có ai liên đới trả thay.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thủ tục niêm yết công khai thông báo về việc thụ lý vụ án đối với bị đơn là ông Nguyễn Văn N. Tuy nhiên, Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến, yêu cầu của ông N đối với yêu cầu của nguyên đơn là S1.
Tòa án tiếp tục triệu tập các đương sự để tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Văn N liên tục vắng mặt. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên vụ án đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Tại phiên tòa ngày 20/6/2024, ông Nguyễn Văn N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không có lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại các khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án nhân dân Quận 12 thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ các thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tuy thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng không ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc xét xử vụ án.Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tranh chấp giữa S1 với ông Nguyễn Văn N là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015.
Trong hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ ngày 16/9/2019, Nguyên đơn ghi rõ trong đơn khởi kiện địa chỉ liên lạc của ông Nguyễn Văn N tại quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017; Điều 26, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Văn N vắng mặt lần 2 không rõ lý do nên không có lời khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông N theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
- Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của đương sự; căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được, có đủ cơ sở xác định:
Theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng giữa bên sử dụng thẻ tín dụng là ông Nguyễn Văn N và bên cho sử dụng thẻ tín dụng là S1 có chữ ký của ông Nguyễn Văn N mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án và lời khai của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định: ngày 27/8/20219 (là ngày thẻ tín dụng VS payWave Cre Platinum 436438 - 6693 được S1 phê duyệt), Ông N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.350.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.222.644.062 đồng . N gày 26/02/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ VS payWave Cre Platinum 436438 - 6693 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 15/7/2024, ông N còn nợ các khoản sau:
- Đối với khoản vay thẻ tín dụng:
- Dư nợ gốc: 168.021.296 đồng
- Lãi quá hạn : 249.209.736 đồng
- Tổng cộng: 417.231.032 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu, hai trăm ba mươi mốt nghìn, ba mươi hai đồng)
Theo hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ giữa bên vay tín dụng tiêu dùng là ông Nguyễn Văn N và bên cho vay tín dụng là S1 có chữ ký của ông Nguyễn Văn N mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án và lời khai của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định: ngày 16/09/2019, ông Nguyễn Văn N có ký với Ngân hàng TMCP S – CN P – PGD Quận 6 hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ với mục đích tiêu dùng cá nhân, chi tiết như sau:
- -Số HĐTD: 201909228549 ngày 16/09/2019
- -Số tiền vay: 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng)
- -Thời hạn vay: 36 tháng
- -Thời điểm trả hết nợ: 16/09/2022
- -Phương thức trả nợ: khi trả nợ vay (bao gồm nợ gốc, lãi vay), bên vay phải trả nợ vay cùng loại tiền với loại tiền đã nhận nợ tương ứng (VNĐ, ngoại tệ) đính kèm Hợp đồng này hoặc đính kèm theo từng giấy nhận nợ tương ứng.
Trong quá trình vay, từ ngày giải ngân đầu tiên đến nay, ông Nguyễn Văn N đã liên tục thanh toán trễ khoản vay. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông N vẫn không có thiện chí trả nợ. Vậy, ông N vi phạm nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến hết ngày 15/7/2024 ông Nguyễn Văn N còn nợ khoản vay tín chấp như sau:
| Diễn giải | Vốn | Lãi trong hạn | Lãi quá hạn |
| 201909228549 | 42.770.000 | 7.803.162 | 36.187.831 |
Tổng cộng: 86.760.993 (tám mươi sáu triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn, chín trăm chín mươi ba đồng).
Nay, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Nguyễn Văn N phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 15/7/2024 là: 503.992.025 đồng (Năm trăm lẻ ba triệu, chín trăm chín mươi hai nghìn, hai mươi lăm đồng) trong đó:
- + Khoản vay thẻ tín dụng:
- Dư nợ gốc: 168.021.296 đồng
- Lãi quá hạn : 249.209.736 đồng
- Tổng cộng: 417.231.032 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu, hai trăm ba mươi mốt nghìn, ba mươi hai đồng)
- + Khoản vay tín dụng tiêu dùng
| Nợ gốc | : | 42.770.000 đồng |
| -Lãi trong hạn | : | 7.803.162 đồng |
| -Lãi quá hạn | : | 36.187.831 đồng |
| -Tổng cộng | : | 86.760.993 (tám mươi sáu triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn, chín trăm chín mươi ba đồng). |
- Ngoài ra, ông Nguyễn Văn N còn phải chịu lãi phát sinh kể từ ngày 16/7/2024 đối với K vay tín dụng tiêu dùng và Khoản vay thẻ tín dụng cho đến khi trả dứt nợ theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng. khoản vay này chỉ mình ông N chịu, không có ai liên đới trả thay.
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do vậy, đối với hợp đồng vay mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng vay được thực hiện theo thỏa thuận mà không theo quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2015. Xét thấy, các yêu cầu trên của S1 đối với ông Nguyễn Văn N là có căn cứ và hợp pháp nên được chấp nhận.
Về án phí: ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 26; 35; 39; 147; 227; 228 và 273 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các điều 463; 466; 468 và 470 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án năm 2009;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Buộc ông Nguyễn Văn N phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tính đến ngày 15/7/2024, tổng số tiền nợ phải trả : 503.992.025 đồng (Năm trăm lẻ ba triệu, chín trăm chín mươi hai nghìn, hai mươi lăm) đồng, trong đó phải thanh toán gồm:
- + Khoản vay thẻ tín dụng VS payWave Cre Platinum 436438 – 6693 ngày 27/8/20219: nợ gốc: 168.021.296 đồng ; lãi quá hạn: 249.209.736 đồng; tổng cộng số tiền phải trả là: 417.231.032 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu, hai trăm ba mươi mốt nghìn, ba mươi hai đồng).
- + Khoản vay tín dụng tiêu dùng của hợp đồng tín dụng số: [...] ngày 16/09/2019: nợ gốc: 42.770.000 đồng ; lãi trong hạn: 7.803.162 đồng ; lãi quá hạn: 36.187.831 đồng; tổng cộng : 86.760.993 (tám mươi sáu triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn, chín trăm chín mươi ba đồng).
Việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/7/2024), ông Nguyễn Văn N còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần S thì lãi suất mà ông Nguyễn Văn N phải thanh toán cho Ngân hàng theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Văn N phải chịu 24.159.681 (Hai mươi bốn triệu một trăm năm mươi chín nghìn sáu trăm tám mươi mốt) đồng.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 10.437.381 (Mười triệu bốn trăm ba mươi bảy ngàn ba trăm tám mươi mốt) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0030840 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12.
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Diễm |
Bản án số 391/2024/DS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 391/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
