Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - TUYÊN QUANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 391/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16-12-2025

(V/v Ly hôn)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Thành.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tuấn Ngọc và bà Lê Thị Thảo.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Quan Minh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 171/2025/TLST-HNGD ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/12/2025, giữa:

* Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Á, sinh năm 1975. Số CCCD: [...].

Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường M, tỉnh Tuyên Quang.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Chí C, sinh năm 1967. Số CCCD: [...].

Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường M, tỉnh Tuyên Quang.

Đang ở: Tổ dân phố E, phường N, tỉnh Tuyên Quang.

Các đương sự có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai bà Vũ Thị Á trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị Á và ông Nguyễn Chí C trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, tự nguyện đi đến hôn nhân, có làm thủ tục đăng ký kết hôn năm 2023 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y (cũ), tỉnh Tuyên Quang theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Bà Á trình bày ông C không có đóng góp gì về vật chất và quan hệ gia đình, ông C lừa dối, chiếm đoạt tài sản của bà, khi bà yêu cầu trả tiền thì ông C không trả và bỏ nhà đi. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà Vũ Thị Á đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Chí C theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về vay nợ chung: Bà Á không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Á nhận chịu toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm.

* Bị đơn ông Nguyễn Chí Cao trình B tại Biên bản lấy lời khai:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Vũ Thị Á đã quen biết nhau từ những năm 1990. Năm 2021 găp lại nhau thì nảy sinh tình cảm, đồng cảnh tự nguyện đi đến hôn nhân, ở chung cùng nhà bà Á. Cũng năm 2021, khi đánh xây nhà bà Á bị tai nạn nằm viện nhiều ngày, ông tận tình chăm sóc và tiếp tục đóng góp tiền xây nhà. Đến năm 2023 làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y (cũ), tỉnh Tuyên Quang theo quy định của pháp luật.

Vợ chồng chung sống với nhau tại nhà do hai vợ chồng xây, do cuộc sống có con riêng của bà Á nên có những mâu thuẫn về kinh tế. Nay ông C xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà Vũ Thị Á có đơn xin ly hôn, ông nhất trí nhưng với điều kiện chia tài sản chung là nhà xây.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về vay nợ chung: Vợ chồng ông bà không có vay nợ chung.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, các đương sự không ý kiến thắc mắc gì về mặt chứng cứ nhưng không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Điều 28, 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS), xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng; tiến hành tống đạt các văn bản cho đương sự, tiến hành niêm yết công khai đúng thời hạn quy định, gửi cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Điều 70, 71, 72 BLTTDS. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XIV của BLTTDS.

Về hướng giải quyết vụ án:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Ánh . Tuyên xử cho bà Vũ Thị Á được ly hôn ông Nguyễn Chí C.
  • - Về tài sản chung: Bà Vũ Thị Á không đề nghị Toà án giải quyết; ông Nguễn Chí C1 yêu cầu chia tái sản chung sau khi Toà án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử nên không xem xét giải quyết.
  • - Về nợ chung: Bà Vũ Thị Á không đề nghị nên không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 147, 271, 273 của BLTTDS và Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà Vũ Thị Á phải nộp tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật và các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Vũ Thị Á đã nộp các tài liệu:

  • - 01 (một) Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính);
  • - 02 (hai) Căn cước công dân (bản photo);
  • - 02 (hai) Xác nhận thông tin về cư trú (bản chính);

Bà Vũ Thị Á và ông Nguyễn Chí C không thống nhất được với nhau về việc ly hôn và các vấn đề khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhân dân Khu vực 1 - tỉnh Tuyên Quang nhận định:

[1] Ông Nguyễn Chí C cư trú tại Tổ dân phố T, phường M, tỉnh Tuyên Quang. Bà Vũ Thị Á khởi kiện Ly hôn. Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Tuyên Quang theo quy định của các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Theo bà Vũ Thị Á trình bày bà và ông Nguyễn Chí C tự nguyện đi đến hôn nhân, có làm thủ tục đăng ký kết hôn năm 2023 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y (cũ), tỉnh Tuyên Quang theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Bà Á trình bày ông C không có đóng góp gì về vật chất và quan hệ gia đình, ông C lừa dối, chiếm đoạt tài sản của bà, khi bà yêu cầu trả tiền thì ông C không trả và bỏ nhà đi. Ông Cao trình B do cuộc sống có con riêng của bà Á nên có những mâu thuẫn về kinh tế. Vì vậy, nếu cứ tiếp tục duy trì tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Á, xử cho bà Vũ Thị Á được ly hôn ông Nguyễn Chí C.

[3] Về tài sản chung:

Bà Vũ Thị Á xác định không có.

Ông Nguyễn Chí C xác định có tài sản chung nhưng không làm đơn đề nghị chia tài sản chung theo yêu cầu của Toà án trước khi Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét việc chia tài sản chung trọng vụ án này. Ông C có quyền khởi kiện chia tài sản chung bằng một vụ án dân sự riêng.

[4] Về nợ chung: Bà Vũ Thị Á không đề nghị Toà án giải quyết, ông Nguyễn Chí C xác định không nợ chung nên Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết.

[5] Căn cứ điểm a khoảng 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/1016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Vũ Thị Á phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; Điều 235, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự
  • - Căn cứ Điều 53; khoản 1 Điều 56; của Luật Hôn nhân và Gia đình:
  • - Căn cứ điểm a khoản 5; khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Ánh . Xử cho bà Vũ Thị Á được ly hôn ông Nguyễn Chí C (Đăng ký kết hôn ngày 17/11/2023 tại UBND xã T – nay là phường M, tỉnh Tuyên Quang).
  2. Về án phí: Bà Vũ Thị Á phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí không có giá ngạch. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Á đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000730 ngày 14/10/2025, của Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang. Bà Á đã nộp đủ án phí.

    Ông Nguyễn Chí C không phải nộp án phí.

  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./

Nơi nhận:

  • - VKSND Khu vực 1 - Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Thi hành án Dân sự tỉnh Tuyên Quang;
  • - UBND phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VT, HSVA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Anh Thành

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Lý Thị Nhân Trần Thế Dũng

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Ông Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 391/2025/HNGĐ-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TUYÊN QUANG về ly hôn

  • Số bản án: 391/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Ánh ly hôn ông Cao
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger