|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 391/2024/HS-ST |
|
|
Ngày: 09/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thuý Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Phan Anh .
- Bà Dương Tú Anh
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thẩm tra viên chính
Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa:
Bà Lương Thúy Hà - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại Phòng xét xử - Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 386/2024/HSST ngày 13/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 380/2024/QĐXX-HS ngày 25/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Xuân T, sinh năm 2002; giới tính: Nam; Đăng ký thường trú: Số B Â, phường N, quận T, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: P - CT10C khu đô thị Đ, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trương Bá T1 (đã chết) và bà Trương Thị H; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. D chỉ bản số 384 ngày 06/5/2024 do Công an quận Đ, Thành phố Hà Nội lập. Tạm giữ: 14/4/2024, tạm tha: 23/4/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1978. Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng (xin vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 14/4/2024, do có nhu cầu quan hệ tình dục nên Trương Xuân T sử dụng điện thoại Iphone SE truy cập trang web Checkerviet.com để tìm gái bán dâm. Qua các thông tin trong bài đăng trên trang web, T gọi điện thoại cho chị Nguyễn Thị N và đặt vấn đề muốn mua dâm đối với chị N. Chị N đồng ý và hẹn T đến nhà nghỉ M (Địa chỉ: Số B, ngõ B, phố G, phường C, quận Đ, Thành phố Hà Nội) để mua bán dâm. Khoảng 00 giờ 40 phút cùng ngày. T nhờ bạn là Phạm Trung T2 (Sinh năm: 2002; Nơi cư trú: Xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng) điều khiển xe mô tô chở đến nhà nghỉ M. Tại đây, T2 gặp anh Bùi Văn L (Sinh năm: 2000; Nơi cư trú: Số B ngõ B phố G, phường C, quận Đ, Thành phố Hà Nội) - là lễ tân nhà nghỉ thuê phòng 401, trả trước 150.000 đồng tiền phòng rồi nhắn tin cho chị N thông tin phòng. Một lúc sau, chị N đến nhà nghỉ và đi lên phòng 401 gặp T2. Tại đây, chị N yêu cầu T2 chuyển trước cho chị N số tiền bán dâm là 600.000 đồng và nói chỉ quan hệ tình dục trong thời gian 30 phút vì đã muộn. T2 đồng ý và chuyển khoản cho chị N số tiền 600.000 đồng vào tài khoản số 0963228776 thuộc ngân hàng V mang tên NGUYEN THI NU. Sau khi nhận được tiền, T2 và chị N quan hệ tình dục được khoảng 30 phút thì chị N đòi về với lý do đã hết thời gian theo thỏa thuận nhưng T2 không đồng ý vì chưa thỏa mãn. Chị N không đồng ý quan hệ tình dục nữa và ngồi dậy lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A73 của mình đặt tại vị trí trên hốc tủ dưới chân giường để sử dụng. Khi chị N vừa cầm điện thoại thì T2 dùng tay giật điện thoại của chị N rồi cất xuống dưới gối ở đầu giường và nằm úp đè lên người chị N, dùng hai tay giữ người chị N để ép chị N tiếp tục quan hệ tình dục với T2. Chị N không đồng ý và chống trả nên T2 không quan hệ tình dục được. Quá trình giằng co, T2 cắn 01 cái vào má bên phải của chị N và chị N cắn lại 01 cái vào vùng giữa ngón cái và ngón trỏ tay trái của T2. Đồng thời, chị N cố lấy chiếc điện thoại ở dưới gối nhưng T2 không cho lấy mà T2 cầm điện thoại của chị N rồi đặt ở trên hộc tủ phía cuối chân giường. T2 tiếp tục nằm đè lên người chị N để ép chị N quan hệ tình dục với T2 nhưng chị N vẫn không đồng ý và chống trả quyết liệt.
Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, do chị N cương quyết từ chối quan hệ tình dục nên T2 thả chị N ra và mặc quần áo. Cùng lúc đó, T2 đòi lại số tiền 600.000 đồng đã chuyển cho chị N để mua dâm với lý do chưa xuất tinh được nhưng chị N không trả tiền với lý do đã quan hệ tình dục với nhau theo đúng thỏa thuận. Sau đó, chị N cũng đứng dậy mặc đồ. Lợi dụng thời điểm chị N đang mặc đồ, T2 nhanh chóng dùng tay lấy chiếc điện thoại của chị N để trên hộc tủ ở cuối giường và cất vào túi đang đeo trên người. Chị N thấy vậy liền xông vào giằng lại chiếc điện thoại nhưng bị T2 đẩy ra khiến chị N bị lùi lại khoảng 02-03 bước chân. Sau đó, T2 cất chiếc điện thoại vào túi đeo chéo, chị N thách thức T2 đánh mình, T2 giờ tay lên nhưng không đánh rồi đi về phía cửa phòng với mục đích đi ra ngoài. Thấy vậy, chị N chạy ra đứng chắn trước của phòng thì bị T2 dùng tay đẩy ra rồi T2 nhanh chóng mở cửa chạy xuống tầng 1. Chị N đứng dậy đuổi theo T2 và yêu cầu anh L không được mở cửa vì T2 đang giữ điện thoại của chị N.
Tại sảnh lễ tân, chị N tiếp tục yêu cầu T2 trả lại điện thoại cho chị N nhưng T2 không đồng ý mà yêu cầu chị N phải trả lại cho T2 số tiền 600.000 đồng thì T2 mới trả điện thoại. Chị N không đồng ý và dùng chiếc điện thoại thứ hai của mình gọi điện thoại cho em gái là chị Nguyễn Quỳnh H1 (Sinh năm: 1986. Nơi cư trú: Số A phố H, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng) đến nhà nghỉ M đón chị N Khoảng 10 phút sau, chị N nghe thấy có tiếng xe máy ở trước cửa nhà nghỉ. Chị N đi bộ ra cửa thì thấy Phạm Trung T2 đi xe mô tô đến đón Trương Xuân T. Chị N nói với T về việc Xuân T đang cầm điện thoại của mình nên lễ tân chưa mở cửa cho về. Trung Trường bảo chị N gọi Xuân T ra để nói chuyện, chị N đi vào bảo Xuân T ra gặp bạn đứng ngoài cổng thì Xuân T đi ra khoảng 02 - 03 phút rồi lại quay vào quầy lễ tân. Thấy vậy, chị N đi ra hỏi Trung Trường thì Trung T2 nói đã bảo Xuân T trả điện thoại cho N nhưng không được. Chị N quay vào quầy lễ tân thì thấy Xuân T đang ngồi ở ghế sopha gọi điện thoại trình báo Công an về việc đang bị lễ tân ở nhà nghỉ M giữ không cho về. Một lúc sau, chị Nguyễn Quỳnh H1 đi xe đến đứng ở trước cửa nhà nghỉ thì chị N bảo anh L ra mở cửa. Cùng lúc đó, Xuân T cũng đứng dậy và đi theo sau anh L. Lợi dụng thời điểm anh L vừa mở khóa, T3 nhanh chóng đẩy cửa chạy ra ngoài. Chị N thấy vậy nên dùng hai tay túm vào cổ tay trái của T và dùng răng cắn vào khuỷu tay trái của T, T bị đau nên giật tay ra khiến chị N ngã xuống đất rồi tiếp tục bỏ chạy ra ngoài. Quá trình bỏ chạy, T làm rơi chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE của mình. Chị H1 đã nhặt được chiếc điện thoại và đưa cho chị N. Khoảng 05 phút sau, Công an phường C đến đưa những người liên quan về trụ sở để làm việc.
Cơ quan Công an đã tạm giữ của chị Nguyễn Thị N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE màu đỏ lắp ốp lưng màu xanh đã qua sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã tiến hành triệu tập Trương Xuân T tại địa chỉ P1836 - CT10C khu đô thị Đ, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội đến làm việc. Tại cơ quan điều tra, T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của người bị hại và những người liên quan.
Trương Xuân T đã tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung A73 màu xanh lắp ốp silicon tối màu đã qua sử dụng và 01 túi đeo màu ghi đen, kích thước khoảng (13x22x03)cm, có dây đeo màu đen đã qua sử dụng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 141/KL-HDĐGTS ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giả tài sản Ủy ban nhân dân quận Đ kết luận:
“01 điện thoại di động Samsung A73 màu xanh, đã thu hồi định giá 5.000.000 đồng. Chiếc ốp silicon tối màu, đã qua sử dụng có giá khoảng 25.000 đồng.”
Đối với hành vi Trường Xuân T4 dùng vũ lực ép chị Nguyễn Thị N phải tiếp tục quan hệ tình dục với T4 khi T4 chưa xuất tinh. Tại cơ quan công an, chị N từ chối khám thương và giám định thương tích đồng thời có đơn đề nghị không xử lý hình sự đối với hành vi Hiếp dâm của Trường Xuân T4. Do vậy, Công an quận Đ không xử lý hình sự đối với Trương Xuân T về hành vi Hiếp dâm. Chị N không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A73 màu xanh lắp ốp lưng silicon tối màu, xác định là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chị Nguyễn Thị N. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã trao trả lại chiếc điện thoại cho chị N theo quy định của pháp luật.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE màu đỏ lắp ốp lưng màu xanh, 01 túi đeo màu ghi đen, kích thước khoảng (13x22x03)cm, có dây đeo màu đen đã qua sử dụng xác định là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Trương Xuân T Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã trao trả lại chiếc điện thoại cho T theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi mua dâm của Trương Xuân T: Công an quận Đ đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Trương Xuân T về hành vi "Mua dâm” theo quy định tại khoản 1 điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. mức phạt 1.500.000 đồng
Đối với hành vi bán dâm của Nguyễn Thị N: Công an quận Đ ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Thị N về hành vì “Bán dâm" theo quy định tại khoản 1 điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, mức phạt 400.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 354/CT-VKSĐĐ ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố Trương Xuân T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Trương Xuân T khai nhận hành vi phạm tội như trong quá trình điều tra và nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên, sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt Trương Xuân T mức từ 16 tháng đến 20 thàng tù nhưng cho hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và những người liên quan cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 14/4/2024 tại nhà nghỉ M (Địa chỉ: Số B, ngõ B phố G, phường C, quận Đ, Thành phố Hà Nội), Trương Xuân T có hành vi cướp giật 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A73 màu xanh lắp ốp lưng silicon tối màu giá trị 5.025.000 đồng của chị Nguyễn Thị N. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
[3] Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nên cần phải có hình phạt đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy, mặc dù bị cáo có hành vi công khai, nhanh chóng nhưng không có ý định tẩu thoát, không có ý định chiếm đoạt tài sản của bị hại, mục đích giữ lại tài sản chỉ để yêu cầu bị hại đồng ý cho bị cáo được thỏa mãn sinh lý. Bị cáo vừa mới trưởng thành, chưa có kinh nghiệm trong cuộc sống, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn, hối cải, tài sản đã được trao trả cho bị hại do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương cố gắng lao động, sản xuất, học tập nghề nghiệp để trở thành người lương thiện, biết tuân thủ pháp luật, không tái vi phạm pháp luật.
Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn phải chịu hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hinh sự tuy nhiên do bị cáo nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu nào khác do vậy Hội đồng xét xử không xem xét
[4] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 106, 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Căn cứ Nghị quyết 02/2018 ngày 15.5.2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên bố bị cáo Trương Xuân T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt: Trương Xuân T: 16 (mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Giao bị cáo Trương Xuân T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội (nơi bị cáo cư trú) giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo Trương Xuân T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thúy Hoa |
Bản án số 391/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp giật tài sản
- Số bản án: 391/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Trương Xuân Trường 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 tháng kể từ ngày tuyên án. Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
