|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 391/2023/HS-ST Ngày 27 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị An
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Lành
2. Ông Trần Xuân Viện
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Ngọc Huyền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Kim O - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 363/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 389/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Đào Hoàng L; tên gọi khác: Không; sinh ngày 18 tháng 8 năm 1987; giới tính: Nam; nơi cư trú: Tổ F, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Đào Tiến L1, sinh năm 1961; con bà: Hoàng Thị H, sinh năm 1961; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1986 (đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2020.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại địa phương (có mặt)
* Những người tham gia tố tụng khác:
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963 (có đơn xin vắng mặt)
Trú tại: Tổ H, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1961 (có mặt)
Trú tại: Tổ F, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Hoàng L và chị Nguyễn Thị H1 trước đây là vợ chồng và có 02 con chung là cháu Đào Linh N, sinh năm 2016, Đào Hoàng Q, sinh năm 2020. Tuy nhiên, L và chị H1 đã ly hôn, cả hai con đều ở với L nên L thường đưa các con lên nhà bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1963, trú tại: Tổ H, phường T, thành phố T (là mẹ đẻ của chị H1) chơi. Quá trình đi lại, Lâm thường nhìn thấy bà T cất tiền trong ngăn tủ gỗ của kệ ti vi và cất chìa khóa Lên nóc tủ. Do bản thân cần tiền để chơi game trên mạng nên L nảy sinh ý định trộm cắp tiền của bà T. Trong khoảng thời gian từ ngày 18/6/2023 đến ngày 30/7/2023, L đã nhiều lần trộm cắp tiền của bà T. Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/6/2023, L đưa cháu N và cháu Q đến nhà bà T để gửi. Khi L đến nơi thì có bà T và ông Nguyễn Chung H2, sinh năm: 1960, trú tại: Tổ H, phường T, thành phố T (chồng bà T) đang ở trong bếp nấu cơm, L đưa 02 con vào bếp để chơi với ông bà, rồi đi ra khu vực phòng khách. Lợi dụng khu vực phòng khách không có ai trông coi, L đã lén lút lấy chìa khóa trên nóc tủ kệ ti vi rồi mở ngăn tủ gỗ bên phải. Khi mở tủ ra, L nhìn thấy có một số giấy tờ và 01 túi nilon màu vàng bên trong có nhiều tờ tiền với mệnh giá khác nhau xếp lộn xộn. L dùng tay phải lấy một nắm gồm nhiều tờ tiền khác nhau trong túi nilon rồi cất giấu vào trong túi quần phía sau bên phải và khóa tủ lại, cất chìa khóa vào vị trí cũ. Sau khi lấy được tiền, L chào bà T và ông H2, gửi 2 con của L ở lại rồi ra về. Khi về nhà tại tổ F, phường Q, thành phố T, Lâm đếm được số tiền là 7.500.000 đồng trong đó có nhiều tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; 200.000 đồng; 500.000 đồng khác nhau. Sau đó, L dùng số tiền này để chơi game qua mạng và tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện bị mất tiền, bà T đã nhắn tin hỏi L. L thừa nhận và cam kết sẽ trả dần cho bà T.
Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ ngày 09/7/2023, L tiếp tục đưa 02 con đến nhà bà T để gửi bà T trông cháu. Khi L đến nhà bà T thì bà T và ông H2 đang ở trong khu vực bếp để nấu cơm. L lại ra phòng khách lấy chìa khóa trên nóc tủ kệ ti vi rồi mở ngăn tủ gỗ bên phải. Khi mở tủ ra, L thấy có một số giấy tờ và 01 túi nilon màu vàng bên trong có nhiều tờ tiền với mệnh giá khác nhau. L dùng tay phải lấy một nắm gồm nhiều tờ tiền trong túi nilon rồi cất giấu vào trong túi quần phía sau bên phải và khóa tủ lại, cất chìa khóa vào vị trí cũ. Sau khi lấy được tiền, L chào bà T và ông H2, gửi 2 con của L ở lại rồi ra về. Khi về nhà, Lâm đếm được số tiền là 12.500.000 đồng gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; 200.000 đồng; 500.000 đồng khác nhau. L dùng số tiền này để chơi Game và cờ bạc qua mạng hết. Sau khi phát hiện bị mất tiền, bà T đã nhắn tin hỏi L. L thừa nhận và cam kết sẽ trả dần cho bà T.
Lần thứ ba: Khoảng 16 giờ ngày 30/7/2023, khi 02 con của L đang ở nhà bà T chơi. Lấy lý do đến đón cháu N và Q về, L tiếp tục đến nhà bà T để trộm tiền. Khi L đến nơi thì vẫn có bà T, ông H2 và 02 con đang ở phòng khách. L ngồi chơi tại phòng khách với ông bà để tìm cơ hội tiếp tục trộm cắp tiền. Khoảng 30 phút sau, lợi dụng việc ông H2, bà T và các cháu xuống bếp nấu cơm. L tiếp tục lén lút lấy chìa khóa trên nóc tủ kệ ti vi tại vị trí cũ rồi mở ngăn tủ gỗ bên phải. Khi mở ra, L vẫn nhìn chiếc túi nilon màu vàng bên trong có nhiều tờ tiền với mệnh giá 500.000 đồng. L tiếp tục dùng tay phải lấy một số tiền trong túi nilon rồi cất giấu vào túi quần phía sau bên phải, sau đó khóa tủ lại, cất chìa khóa vào vị trí cũ. Khoảng 10 phút sau, L ra về và để các con ở lại, không đón về nữa. Khi về nhà, L bỏ số tiền vừa trộm cắp ra đếm được 28.500.000 đồng gồm 57 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Sau đó L dùng số tiền này để chơi game qua mạng và tiếp tục bị thua lỗ hết. Khoảng 8 giờ ngày hôm sau, bà T phát hiện bị mất tiền và đã hỏi L về sự việc trên. L thừa nhận và cam kết sẽ trả dần tiền cho bà T. Ngày 21/9/2023, bà T đến Cơ quan Công an trình báo sự việc trên.
Hồi 17 giờ ngày 21/9/2023, Cơ quan điều tra đã đưa Đào Hoàng L đi xác định hiện trường. Kết quả, L xác định đúng các vị trí tại hiện trường vụ trộm cắp tài sản nêu trên.
Tiến hành kiểm tra điện thoại di động của bà T và Đào Hoàng L. Kết quả, trong điện thoại của L không có nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với điện thoại của bà T có nhiều tin nhắn trong Zalo thể hiện việc trao đổi liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của L.
* Vật chứng của vụ án:
- Số tiền: 48.500.000 đồng là tiền mà Đào Hoàng L đã trộm cắp của bà Nguyễn Thị Tuyết . Hiện đã thu hồi được.
* Về phần dân sự:
Gia đình Đào Hoàng L đã bồi thường số tiền 50.000.000 đồng cho bà T. Đến nay, bà T không yêu cầu đề nghị gì.
Tại bản cáo trạng số 366/CT-VKSTPTN ngày 22/11/2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Đào Hoàng L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Hoàng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đào Hoàng L 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ số tiền mà bị cáo trộm cắp và không có yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát.
Trong phần lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất, xin được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
Trong các ngày 18/6/2023; 09/7/2023; 30/7/2023 tại tổ H, phường T, thành phố T, Đào Hoàng L có hành vi trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị Tuyết . Cụ thể như sau:
- - Lần thứ nhật: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/6/2023, L đã trộm cắp số tiền 7.500.000 đồng.
- - Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ ngày 09/7/2023, L đã trộm cắp số tiền 12.500.000 đồng.
- - Lần thứ ba: Khoảng 16 giờ ngày 30/7/2023, L đã trộm cắp số tiền 28.500.000 đồng.
Tổng số tiền mà Đào Hoàng L đã chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị T là 48.500.000 đồng. L đã nhờ mẹ là bà Hoàng Thị H bồi thường cho bà T số tiền 50.000.000 đồng. Đến nay, bà T không có yêu cầu đề nghị gì. Phần dân sự đã giải quyết xong.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đào Hoàng L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc, lời khai của bị hại và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xét thấy, hành vi của bị cáo được thực hiện một cách lén lút với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do vậy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Điều 173 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng, nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến ba năm”
[3]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, mẹ đẻ bị cáo là bà Hoàng Thị H có nhiều thành tích, được Chủ tịch nước tặng Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Chiến sĩ vẻ vang Hạng nhì và Huy chương Chiến sĩ vẻ vang Hạng 3; bị hại là bà T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mặc dù các bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung bằng tiền, nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Đối với tài sản mà bị cáo trộm cắp của bà T, hiện bà T đã nhận lại đủ tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đối với bà Hoàng Thị H là mẹ đẻ của bị cáo đã bồi thường số tiền 50 triệu đồng cho bị hại, bà H xác định số tiền này là của bà nhưng bà tự nguyện cho bị cáo để khắc phục hậu quả do bị cáo gây ra, bà cũng không yêu cầu bị hại phải trả lại số tiền thừa 1.500.000đ nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5]. Về vật chứng:
Đối với số tiền 48.500.000 đồng là tiền mà Đào Hoàng L đã trộm cắp của bà Nguyễn Thị T, hiện đã thu hồi được.
[6]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về điều luật áp dụng, hình phạt đối với bị cáo và các nội dung khác là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Đối với số tiền 48.500.000 đồng mà L trộm cắp, L khai đã sử dụng để mua nhân vật ảo trong Game. Tuy nhiên, đến nay L đã xóa toàn bộ các Game đã chơi trên điện thoại và không còn nhớ mật khẩu truy cập vào tài khoản Game. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Đào Hoàng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt: Đào Hoàng L 09 (chín ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Giao bị cáo Đào Hoàng L cho Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
2. Trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.
3. Về Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Đào Hoàng L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 391/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 391/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đào Hoàng Lâm phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt: Đào Hoàng Lâm 09 (chín ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
