|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 391/2023/HNGĐ-ST Ngày 25-12-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim H2 và Bà Ngô Thị Thơm.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà:
Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 497/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 449/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 314A/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1986.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: KDC H, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Hiện đang cư trú tại Đài L (Trung Quốc). Vắng mặt và có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1986.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: KDC H, phường V, thành phố C L, tỉnh Hải Dương. Hiện đang cư trú tại Đài L (Trung Quốc). Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn N, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt và có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1962. Địa chỉ: KDC H, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt và có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người được chị L ủy quyền về việc giao nhận văn bản tố tụng: Ông Nguyễn Thanh H3, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số nhà 2 khu 1 phường Th, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn H được tự do tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương vào ngày 11/5/2007. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng gia đình anh H. Thời gian sau này anh chị cùng đi lao động tại Đài L (Trung Quốc), trong thời gian ở nước ngoài, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có sự tin tưởng, chia sẻ nên xảy ra mâu thuẫn. Thực tế vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi và không còn quan tâm đến nhau nên tình cảm ngày càng lạnh nhạt. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Lê Văn H theo quy định.
Về con chung: Vợ chồng chị có 04 con chung là Lê Nhật Kh, sinh ngày 04/10/2005 hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, Lê Quốc V, sinh ngày 26/4/2007, Lê Nguyễn Đức Minh, sinh ngày 15/02/2010 và Lê Nguyễn Đức Công, sinh ngày 15/02/2010. Hiện cháu Vương, cháu Công đang ở cùng với bố mẹ đẻ chị L, còn cháu Minh đang ở cùng với bố mẹ đẻ anh H. Do các con chung đã sinh sống và học tập ổn định nên đến nay chị L đề nghị Tòa án giữ nguyên cuộc sống của các con chung như hiện tại. Cụ thể: Giao cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Lê Quốc V, Lê Nguyễn Đức Cvà giao con chung Lê Nguyễn Đức Mcho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau đồng thời tạm giao các cháu cho ông bà ngoại, bà nội chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị L, anh H không ở tại Việt Nam. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Con chung Lê Quốc V, Lê Nguyễn Đức Ccó nguyện vọng được ở cùng với mẹ là chị Nguyễn Thị L và ông bà ngoại.
Con chung Lê Nguyễn Đức Mcó nguyện vọng được ở cùng với bố là anh Lê Văn H và bà nội.
Tại lời khai của bà Nguyễn Thị H2 (mẹ đẻ của anh Lê Văn H) thể hiện: Anh H hiện đang sinh sống tại Đài L (Trung Quốc), địa chỉ cụ thể thì bà không biết, nhưng anh H thường xuyên liên lạc qua điện thoại với gia đình. Bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh H biết. Vợ chồng chị L, anh H xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do anh chị không hòa hợp, không có sự tin tưởng. Bản thân anh chị đã tìm biện pháp hàn gắn tình cảm và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng quan hệ hôn nhân không được cải thiện. Nay chị L có đơn xin ly hôn, bà đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết. Sau khi nhận các văn bản tố tụng, bà đã thông báo cho anh H biết. Anh H không gửi văn bản thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án nhưng có trao đổi với qua điện thoại và xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên anh cũng đồng ý ly hôn. Về con chung: Anh H có nguyện vọng được nuôi con chung Lê Nguyễn Đức Mvà giao con chung Lê Quốc V, Lê Nguyễn Đức Ccho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Do hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài L nên anh H đề nghị Tòa án tạm giao con chung Lê Nguyễn Đức Mcho bà H2 chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tài sản chung không đề nghị Tòa án giải quyết. Bà H2 nhất trí với sự ủy quyền của anh H về việc nuôi con chung trong thời gian anh H không ở tại Việt Nam, không yêu cầu chị L, anh H cấp dưỡng cho cháu Minh và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tại lời khai của ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị L (bố mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị L) thể hiện: Chị L hiện đang sinh sống tại Đài L (Trung Quốc), chị L có trao đổi với ông bà về việc vợ chồng xảy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn được, về con chung chị L có nguyện vọng được nuôi con chung Lê Quốc V, Lê Nguyễn Đức Cđồng thời tạm giao các cháu cho ông bà chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị L không ở tại Việt Nam. Ông bà nhất trí với sự ủy quyền của chị L về việc nuôi con chung, không yêu cầu chị L, anh H cấp dưỡng cho cháu Vương, cháu Công và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tòa án xác minh tại địa phương nơi các đương sự đăng ký kết hôn và sinh sống thể hiện: Chị Nguyễn Thị L và anh Lê Văn H kết hôn hợp pháp, địa phương nắm được vợ chồng anh chị có xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, không có sự tin tưởng nhau. Mặc dù cùng ở nước ngoài nhưng vợ chồng mỗi người ở một nơi, sống ly thân và không còn quan tâm tới nhau. Nay chị L có đơn xin ly hôn, địa phương đề nghị Tòa án xem xét nguyện vọng của các đương sự và quy định của pháp luật để giải quyết.
Tại phiên tòa: Chị Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị H2, ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị L vắng mặt, có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt đồng thời giữ nguyên các ý kiến đã trình bày. Anh Lê Văn H vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS), bị đơn giấu địa chỉ, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật HNGĐ, Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử cho chị Nguyễn Thị L ly hôn anh Lê Văn H. Về con chung: Giao con chung là Lê Quốc V, sinh ngày 26/4/2007, Lê Nguyễn Đức Công, sinh ngày 15/02/2010 cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao con chung Lê Nguyễn Đức Minh, sinh ngày 15/02/2010 cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Trong thời gian chị L, anh H không ở Việt Nam, tạm giao con chung Lê Quốc V, Lê Nguyễn Đức Ccho ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng; tạm giao con chung Lê Nguyễn Đức Mcho bà Nguyễn Thị H2 chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của ông H1, bà L, bà H2 không yêu cầu chị L, anh H cấp dưỡng cho các cháu. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:
- Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L hiện đang sinh sống tại Đài L (Trung Quốc), không về Việt Nam tham gia tố tụng nhưng đã gửi đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, văn bản xin xác nhận nơi cư trú, đơn đề nghị vắng mặt. Các tài liệu này đều có xác nhận của Văn phòng kinh tế văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc nên có đủ cơ sở xác định đúng ý chí, nguyện vọng ly hôn của chị L. Bị đơn anh Lê Văn H có nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh ở khu dân cư H, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương, hiện đang sinh sống tại Đài L (Trung Quốc), không rõ địa chỉ cụ thể. Do vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị L và gia đình bà H2 không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh H ở nước ngoài. Tòa án cũng đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Mặt khác, gia đình bà H2 vẫn thường xuyên liên lạc với anh H nên Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho gia đình để thông báo cho anh H biết việc chị L đề nghị giải quyết ly hôn và các thủ tục tố tụng khác. Gia đình đã nhận các văn bản tố tụng và đã thông báo cho anh H biết. Tại phiên tòa, anh H vắng mặt lần thứ hai, chị L, bà H2, ông H1 và bà L có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Lê Văn H kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương vào ngày 11/5/2007 là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, anh chị có mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và không có sự tin tưởng nhau, thực tế vợ chồng mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm với nhau. Anh Lê Văn H không thể hiện quan điểm bằng văn bản nhưng thông qua việc liên lạc với gia đình, anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn được nên cũng đồng ý ly hôn. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị L và anh Lê Văn H đã trầm trọng, vợ chồng không ai quan tâm tới ai, mục đích hôn nhân không đạt được và được chứng minh thông qua lời khai của đại diện gia đình, quan điểm của địa phương và của các đương sự. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Nguyễn Thị L ly hôn anh Lê Văn H là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Lê Văn H có 04 con chung là Lê Nhật Kh, sinh ngày 04/10/2005 hiện đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét. Con chung Lê Quốc V, sinh ngày 26/4/2007, Lê Nguyễn Đức Minh, sinh ngày 15/02/2010 và Lê Nguyễn Đức Công, sinh ngày 15/02/2010. Xét về thực tế cháu Vương, cháu Công đang ở cùng với ông bà ngoại và có nguyện vọng được ở cùng với mẹ còn cháu Minh đang ở cùng bà nội và có nguyện vọng được ở cùng với bố. Chị L có nguyện vọng được nuôi con chung Lê Quốc V, Lê Nguyễn Đức Cvà đề nghị Tòa án giao con chung Lê Nguyễn Đức Mcho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau đồng thời tạm giao các cháu cho ông bà ngoại, bà nội chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh chị không ở tại Việt Nam. Thông qua gia đình, anh H có nguyện vọng được nuôi con chung Lê Nguyễn Đức Mvà ủy quyền cho bà H2 nuôi cháu Minh trong thời gian anh không có mặt tại Việt Nam. Để đảm bảo sự ổn định và sự phát triển về mọi mặt của con chung, HĐXX chấp nhận giao cho chị Nguyễn Thị L nuôi dưỡng con chung Lê Quốc V, Lê Nguyễn Đức Cvà giao con chung Lê Nguyễn Đức Mcho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự và các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Trong thời gian chị L, anh H không ở tại Việt Nam, tạm giao con chung Lê Quốc V, Lê Nguyễn Đức Ccho ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị L chăm sóc nuôi dưỡng; tạm giao con chung Lê Nguyễn Đức Mcho bà Nguyễn Thị H2 chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của ông H1, bà L, bà H2 không yêu cầu chị L, anh H cấp dưỡng cho các cháu mà ông bà được tạm giao chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu chị L, anh H có căn cứ cho rằng người kia không đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì chị có quyền làm đơn khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết phân chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật (nếu có).
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự (về hôn nhân gia đình) sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì những lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L ly hôn anh Lê Văn H.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Quốc V, sinh ngày 26/4/2007, Lê Nguyễn Đức Công, sinh ngày 15/02/2010. Giao cho anh Lê Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Nguyễn Đức Minh, sinh ngày 15/02/2010. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.
Không ai được cản trở chị Nguyễn Thị L, anh Lê Văn H thực hiện quyền, nghĩa vụ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trong thời gian chị Nguyễn Thị L không có mặt tại Việt Nam, tạm giao con chung Lê Quốc V, Lê Nguyễn Đức Ccho ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng.
Trong thời gian anh Lê Văn H không có mặt tại Việt Nam, tạm giao con chung Lê Nguyễn Đức Mcho bà Nguyễn Thị H2 chăm sóc, nuôi dưỡng.
Chấp nhận sự tự nguyện của ông H1, bà L, bà H2 không yêu cầu chị L, anh H cấp dưỡng cho các cháu mà ông bà được tạm giao chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) và được đối trừ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí do ông Nguyễn Thanh H3 đã nộp thay theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000269 ngày 07 tháng 11 năm 2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L, anh Lê Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị H2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Minh Tân |
Bản án số 391/2023/HNGĐ-ST ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 391/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị L có đơn khởi kiện ly hôn anh H
