Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 390/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 26/12/2023.

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thơm

Bà Phạm Thị Thà

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 453/2023/TLST-HNGĐ ngày 19/10/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 452/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 312/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1980; Địa chỉ: Xóm B, thôn C, xã H, T, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1988; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm B, thôn C, xã H, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Nhật Bản.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Đinh Văn H1, sinh năm 1964; Địa chỉ: Xóm B, thôn C, xã H, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

Anh P, chị H, ông H1 vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai anh Nguyễn Văn P, trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đinh Thị H được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K (nay là xã H, thị xã K), tỉnh Hải Dương vào ngày 23/11/2007 và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Năm 2011, anh đi lao động tại Hàn Quốc, chị H ở nhà chăm sóc con. Vợ chồng xa cách nên nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, nghi ngờ nhau về tình cảm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Năm 2017, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, chị H đã chuyển ra ngoài sinh sống. Mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Năm 2023, anh về Việt Nam thì chị H lại đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản mà không cho anh biết. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.

- Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Mai A, sinh ngày 07/02/2009 và Nguyễn Tùng A1, sinh ngày 04/11/2011. Hiện nay, hai cháu đang ở cùng bố mẹ chị H. Ly hôn, anh tôn trọng quan điểm của con chung, nếu các con chung có nguyện vọng ở với anh, anh sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi tròn 18 tuổi, tự nguyện không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng anh. Nếu các con chung có nguyện vọng ở với chị H, anh đồng ý để các con ở cùng chị H và anh cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H 2.000.000 đồng/cháu/tháng. Chị H đang ở Nhật Bản, chị H nhờ bố mẹ đẻ chăm sóc con chung trong thời gian chị H chưa về nước, anh nhất trí.

- Về tài sản chung, vay nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, anh P không cung cấp được địa chỉ của chị H tại Nhật Bản nên Tòa án đã xác minh qua gia đình chị H, đồng thời yêu cầu gia đình cung cấp địa chỉ của chị H. Trong quá trình Tòa án làm việc với ông Đinh Văn H1 (bố đẻ của chị H), chị H điện thoại trực tiếp có hình ảnh qua điện thoại của ông H1 trình bày:

- Về quan hệ hôn: Thời điểm kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống như anh P trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, anh P đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, chị ở nhà chăm sóc con nhỏ. Vợ chồng xa cách nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Tháng 3/2023, chị đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, anh P vừa ở Hàn Quốc về nước. Anh P có đơn xin ly hôn chị nhất trí.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung như anh P trình bày là đúng. Ly hôn, chị tôn trọng nguyện vọng của các con, nếu các con có nguyện vọng ở với chị, chị sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh P cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị 2.000.000 đồng/cháu/tháng chị nhất trí. Hiện nay, chị đang làm việc tại Nhật Bản chưa về nước, chị nhờ bố đẻ chị thay chị chăm sóc, nuôi dưỡng con chung trong thời gian chị không có mặt tại Việt Nam.

- Về tài sản chung, vay nợ: Chị xác định vợ chồng có tài sản chung là ngôi nhà xây công sức đóng góp của chị là 500.000.000 đồng. Chị và anh P tự thỏa thuận nếu không thỏa thuận được chị sẽ đề nghị Tòa án giải quyết sau.

Hiện nay, chị đang đi làm xa nên chị xin vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên tòa, các văn bản Tòa án gửi cho chị đề nghị gửi cho bố đẻ chị là ông Đinh Văn H1, ông H1 sẽ có trách nhiệm thông báo cho chị được biết.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đinh Văn H1 là bố đẻ chị H xác định đã chứng kiến buổi làm việc của Tòa án với chị H và xác định toàn bộ nội dung chị H trình bày với Tòa án là đúng. Ông nhất trí nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho chị H và có trách nhiệm thông báo cho chị H. Nếu Tòa án giao các con chung của chị H và anh P cho chị H nuôi dưỡng thì ông nhất trí chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu giúp chị H trong thời gian chị H không ở Việt Nam.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn anh P có đơn xin xét xử vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn chị H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H1 có quan điểm xin vắng mặt.

* Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho anh Nguyễn Văn P được ly hôn chị Đinh Thị H; Về con chung: Giao cho chị Đinh Thị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Mai A, sinh ngày 07/02/2009 và Nguyễn Tùng A1, sinh ngày 04/11/2011 thời gian tính từ tháng 12/2023 đến khi các con chung tròn 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn P phải cấp dưỡng tiền con chung cùng chị H là 2.000.000 đồng/cháu/tháng kể từ tháng 12/2023 đến khi con chung tròn 18 tuổi. Tạm giao cháu Nguyễn Mai A và Nguyễn Tùng A1, cho ông Đinh Văn H1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị H không ở Việt Nam; Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Anh P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Anh Nguyễn Văn P có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa anh với chị Đinh Thị H. Chị H hiện đang sinh sống và lao động tại Nhật Bản. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh P không cung cấp được địa chỉ của chị H tại Nhật Bản. Theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu anh P và gia đình chị H cung cấp địa chỉ nhưng anh P và gia đình không cung cấp được. Ông H1 là bố đẻ chị H xác định: chị H vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình và ông đã thông báo cho chị H biết về việc anh P có đơn xin ly hôn với chị H. Mặt khác, quá trình làm việc với ông H1, chị H có điện thoại về trình bày quan điểm nhưng chị H không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, áp dụng Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.

Tại phiên tòa anh P, ông H1 có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt; chị H vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh P, chị H, ông H1.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn P và chị Đinh Thị H được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K (nay là xã H, thị xã K), tỉnh Hải Dương vào ngày 23/11/2007 là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2011 anh P đi Hàn Quốc, từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Năm 2017, chị H đã chuyển ra ngoài ở không chung sống cùng gia đình anh P. Năm 2023, anh P về nước thì chị H đi Nhật Bản từ đó hai bên không còn quan tâm đến nhau. Anh P xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H, chị H nhất trí ly hôn theo đề nghị của anh P. Xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng anh P, chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử xử cho anh P được ly hôn chị H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Anh P, chị H có 02 con chung là Nguyễn Mai A, sinh ngày 07/02/2009 và Nguyễn Tùng A1, sinh ngày 04/11/2011. Quá trình giải quyết vụ án anh P và chị H cùng có quan điểm tôn trọng nguyện vọng của con chung. Cháu Mai A và cháu Tùng A1 đều có nguyện vọng được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn.

Xét thấy: Anh P và chị H đều tôn trọng nguyện vọng của con chung, hiện nay hai cháu đang ở cùng với bố mẹ đẻ chị H và đều có nguyện vọng ở cùng chị H. Chị H đang ở Nhật Bản đề nghị bố chị chăm sóc các con chung trong thời gian chị không có ở Việt Nam, anh P nhất trí. Do vậy, để ổn định cuộc sống của con chung cần chấp nhận sự thỏa thuận của anh P và chị H. Anh P đề nghị cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị H 2.000.000 đồng/cháu/tháng chị H nhất trí, do vậy cần chấp nhận sự thỏa thuận này của anh chị. Tạm giao cháu Mai A và cháu Tùng A1 cho ông Đinh Văn H1 chăm sóc trong thời gian chị H không ở Việt Nam.

Anh P được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.3]. Về tài sản chung, vay nợ: Chị H xác định có tài chung và đề nghị để vợ chồng tự thỏa thuận nếu không thỏa thuận được sẽ đề nghị Tòa án giải quyết. Tòa án đã ấn định thời gian để chị H và anh P thỏa thuận nếu không thuận được thì có quyền làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết nhưng đến thời điểm Tòa án ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử chị H vẫn không có đơn đề nghị Tòa án giải quyết về phần tài sản. Do đó, Hội đồng không xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu các bên đương sự không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện vụ án dân sự về chia tài sản chung sau khi ly hôn.

[3]. Về án phí: Anh P là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và phải chịu án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân & Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn P được ly hôn với chị Đinh Thị H.
  2. Về con chung: Giao cho chị Đinh Thị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Mai A, sinh ngày 07/02/2009 và Nguyễn Tùng A1, sinh ngày 04/11/2011 thời gian tính từ tháng 12/2023 đến khi các con chung tròn 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn P phải cấp dưỡng tiền con chung cùng chị H là 2.000.000 đồng/01 cháu/tháng kể từ tháng 12/2023 đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Kể từ ngày chị Đinh Thị H có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung, nếu anh Nguyễn Văn P chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Tạm giao cháu Nguyễn Mai A và Nguyễn Tùng A1 cho ông Đinh Văn H1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị H không ở Việt Nam.

Anh Nguyễn Văn P được quyền, nghĩa vụ thăm nom các con chung mà không ai được cản trở.

  1. Về án phí: Anh Nguyễn Văn P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0001223 ngày 19/10/2023 (anh P đã nộp đủ án phí).

Anh P còn phải nộp 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về quyền kháng cáo: Anh P, ông H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Chị H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Hiệp Hòa, thị xã Kinh Môn (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HC, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mai Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 390/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 390/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn P xin ly hôn Đinh Thị H và tranh chấp nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger